Tôi mới vừa nhận được tin anh NGUYỄN THÀNH TRỢ, vợ là chị Phan Thị Đại, cựu giáo viên PhanRang Ninh Thuận. Anh Trợ bị bệnh ung thư đến thời kỳ thứ ba, quá nặng, và sắp từ trần. Anh Nguyễn Thành Trợ ở tù 20 năm, từ năm 1976 đến 1996 (trong vụ tham gia Đảng Phục Quốc). Chúng ta, với tinh thần Đồng Hương Thân Hữu Ninh Thuận xin cùng chia xẻ nỗi khó khăn cuả gia đình anh Trợ, chị Đại trong lúc này (tuỳ hỷ). Nếu có hảo ý giúp đỡ, chi phiếu xin gởi về chị Đoàn thị Thanh (vợ anh Trần văn Tiềm)
Đoàn thị Thanh 11067 Camellia Ave. Fountaind Valey, CA. 92708
Chị Thanh sẽ gom góp lại để gởi về cho chị Phan Thị Đại.
tặng bạn bè tặng những cánh chim viễn xứ tặng những người đã nằm xuống tặng những linh hồn vất vưởng trên hành trình biển đông suốt đời kiếm tìm hai chữ Tự Do...!
Anh gởi cho em những vần thơ máu lệ Bao mùa xuân nối tiếp với mùa đông Ở bên kia bờ đại dương thăm thẳm Ôi quê hương nỗi nhớ muôn trùng!
Anh gởi cho em những đoạn trường tha phương Lời ru mẹ cõi êm đềm dĩ vãng Quê hương là chất dịu hiền mật ngọt Bỗng một lần cay đắng quá nghe em!
Anh gởi cho em bờ sóng vỗ êm đềm Mây viễn xứ muốn bay về cố xứ Ðời phiêu giạt những đêm dài mộng mị Vẫn âm thầm khẽ gọi tiếng quê hương!
Anh gởi cho em một kiếp sống vô thường Thân luân lạc sẽ trở về cát bụi Dòng hải lưu mang ta ra biển lớn Trả ta về với đất mẹ yêu thương!
Nguyễn thi Cuc. Bầu trời mùa thu SanJose se lạnh…..Ra đường phải choàng cái áo len mỏng, có lúc cũng hơi rùng mình thấm lạnh. Cái lạnh ở ngoài trời và cái lạnh ở trong lòng làm mình cảm thấy hơi tê tái……Và trong nỗi buồn da diết khi nghĩ về cuộc sống không suông sẻ của một kiếp người tôi cảm thấy đời người sao khổ ải quá, và thoắt chừng như bóng câu qua cửa sổ , thấy đó rồi mất đó. Có rồi lại không……Dù biết việc gì đến sẽ đến , không ai qua khỏi : sinh, lão, bệnh, tử, nhưng tôi vẫn bàng hoàng khi nghe tin ông Ngô khắc Tỉnh, nguyên là một Tổng Trưởng của Bộ Văn Hoá Giáo Duc Việt Nam Cộng Hòa vừa mới từ trần. Ông tho 82 tuổi. Nếu có ai gặp qua ông ít nhất là một lần vẫn không quên được dáng người tầm thước, đẹp người, ăn nói dịu dàng hòa nhã với một kiến thức sâu rộng làm thu hút người đối diện, cho ta một cảm giác kính trọng và gần gũi trong tư cách tiếp chuyện của ông. Ông đậu Tiến sĩ Dược khoa tại Đại học Toulouse ở Pháp quốc. Thời Đệ nhất Cộng Hòa ông làm Dân biểu Quốc hội. Thơì Đệ nhị Cộng Hòa ông làm Tổng trưởng Thông Tin Báo chí rồi Tổng Trưởng Văn Hóa Giáo Dục cho đến ngày mất nước. Về cuối đời ông không được may mắn như những người khác. Vận nước đổi thay, ông đã ngồi tù hơn 13 năm ròng rã. Qua Mỹ theo diện ODP ông được đoàn tụ với gia đình trong tuổi già bóng xế . Cùng đi với anh chi Nguyẽn Viết Kinh, tôi hân hạnh được gặp lại ông tại tư thất của ông ở SanJose. Vẫn khuôn mặt hiền hậu thông thái , vẫn lối nói chuyện dịu dàng từ tốn , với những kiến thức và kinh nghiệm bao quát về đủ mọi chuyện đã làm tôi say sưa theo dõi và mở rộng tầm mắt mình khi nhìn về mọi khía cạnh của cuộc sống chung quanh, nhất là khi nói về quê hương Ninh Thuận, ông hỏi tôi đủ chuyện và cùng nhắc lại nơi nọ chốn kia mà bùi ngùi….Đã mười năm rồi mà tôi vẫn nhớ hoài về lần thăm viếng đó. Là một nhà giáo của thời ông làm Tổng trưởng, tôi luôn trân trọng và kính mến ông, và chúng ta cũng hãnh diện về quê hương Ninh Thuận, ông là một trong những người lãnh đạo mẫn cán của Quốc gia. Trong những ngày cuối đời, tuổi già rồi bệnh tật và nằm một chỗ, tôi nghĩ ông đã chiêm nghiệm được cuộc đời, sự trầm luân của kiếp người và của nhân tình thế thái và tôi nghĩ đã là khi xa xứ, nhất là gần cuối đời, ai lại không nhớ và thả hồn về chốn xưa, nơi mở mắt chào đời, nơi chôn nhau cắt rún, nơi có những kỷ niệm khó quên của thời niên thiếu, ai lại không mơ ước có ngày mình về lại quê cũ, để nhìn để ngắm lại những con đường, những hàng cây, có chiếc cầu bắc ngang dòng sông bên lở bên bồi, những vườn cây ăn trái trĩu cành của thời tuổi dại mà bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm xưa……để thấy lòng mình rung động và thương cảm dạt dào. Tôi còn nhớ ngày thân mẫu anh Hoàng đức Châu qua đời, linh cửu quàng tại nghĩa trang Oak Hill, bà con Ninh Thuận tha hương cùng tụ tập để thăm viếng. Ông công dân số 1 của Quốc gia nhìn bà con mình cười và nói rằng : Chúng ta thế nào rồi cũng sẽ về Ninh Thuận bắt cá Chốt của Đầm Vua nấu canh chua ăn bà con nhé ! Nghe Tổng Thống nói như thế tôi xúc động quá, vội quay đi để dấu đôi dòng lệ đang trào ra khoé mắt. Ở Ninh Thuận của mình, Đầm Vua nằm gần ở Khánh Tường ( vào thời xa xưa, đầm này là của vua Chiêm Thành ) . Từ Tri Thủy, quê của Tổng Thống đi xuống khoảng hai cây số, nơi đó có cá chốt nổi tiếng nấu canh chua ăn rất ngon . Đó là thời trước, bây giờ Đầm Vua đâu còn nữa , họ đã san bằng để làm ruộng muối mà Tổng Thống đâu có biết, ông cứ nghĩ Đầm Vua vẫn còn như thuở thiếu thời ông thường thấy ở quê nhà. Bà con mình có thấy không, một ước vọng thật tầm thường , thật nhỏ nhoi vẫn ấp ủ trong lòng mà Tổng Thống vẫn chưa thực hiện được thì ông đã qua đời. Mỗi lần nghĩ về quê hương của mình, nhớ đến lời nói của Tổng Thống tôi cảm thấy thương ông vô hạn. Bà con mình có thấy không, dù đã từng là Tổng Thống, mà trong tâm tư ông, lúc nào cũng nhớ về quê hương yêu dấu, nơi ông đã sống với biết bao kỷ niệm khó quên của thời thơ ấu , mà khi gặp lại những đồng hương ông đã thốt thành lời. Và trong mỗi người chúng ta, tôi nghĩ ai cũng đều như thế cả. Nói về quê hương của Ninh Thuận, cứ nhắm mắt mà tưởng nhớ về Phan Rang xưa, ai mà không biết tiệm thuốc tây to lớn đầu tiên mang bảng hiệu Ngô khắc Tỉnh là nơi thị tứ, nằm ngay góc giữa đường Thống Nhất và Ngô Quyền, cùng trước mặt chợ PR và bến xe khi thành phố trên đà phát triển. Hầu như tên ông được nhắc đến trên môi của mọi người dân khi đau bệnh đi mua thuốc hoặc nơi hẹn gặp nhau. Hỏi ở đâu ? Ở trước tiệm thuốc tây Ngô khắc Tỉnh . Là xong ngay. Giờ đây ông đang nằm đó, mắt khép lại, khuôn mặt bình thản vô cùng, bỏ lại hết những danh lợi cao sang cũng như những khốn khổ cùng cực của kiếp tù hành hạ. Nhìn khung hình ông, vẫn nụ cười hiền hòa phúc hậu như thuở nào……Thắp nén hương….tôi cảm thấy nước mắt trào…. Chúng tôi, những Đồng hương thân hữu của ông, gởi đến ông tràng hoa lan tím “ Vô Cùng Thương Tiếc “ cùng những lời phân ưu trên báo. Chúng tôi nhìn ông lần cuối và xin vĩnh biệt ông. Tang quyến ông sẽ thiêu thân xác ông và rải xuống biển….. Có thể cuồng lưu của bờ Tây Thái Bình Dương sẽ đưa tro cốt ông về bờ Đông Thái Bình Dương. Biết đâu trong từng hạt bụi ấy sẽ trôi về quê hương Ninh Thuận…. tìm lại nơi mở mắt chào đời…… Cuộc đời vốn dĩ vô thường, cát bụi cũng sẽ trở về với cát bụi mà thôi……Nhắm mắt xuôi tay, là buông tất cả, cả những sung sướng lẫn những nỗi đau khổ nhục nhằn.. Chúng tôi cùng Cầu nguyện linh hồn ông mãi mãi được an vui nơi cõi Vĩnh Hằng.
Xin gởi đến quý đồng hương bài sưu tầm dưới đây để phổ biến rộng rãi đến mọi người:
Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người
Irene Liu (Lang Vườn trích dịch)
Nguồn: bgkq.net
Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-tế săn sóc.
Chỉ cần một ống tiêm thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may, là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke). Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng, nhưng có thể mang đến những kết quả cũng không kém lạ lùng và hữu hiệu. Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời. Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó, quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.
Cô Irene Liu kể chuyện: “Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì ông là nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não. Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước. Khi tai biến mạch máu não xảy ra, tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.”
Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đứng cuống quít. Điều quan trọng nhất là ĐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN,bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu”. Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.
1- Trước hết, chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa (bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly (milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lổ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.
7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại.
Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện. Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bị vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.
Cô Liu nói tiếp: “Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Đông y tên Hà Bảo Định (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa. Vì thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại Đai học Fung-Gaap tại Đài Trung. Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một giáo sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói ‘Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não’. Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não. Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Đại học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu. Sau vài phút, mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra. Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra. Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường. Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy Hoa gần đó. Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc.
Sau đó, mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó. Trái lại, các nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện. Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.”
Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt đời. Đó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đỡ những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.
Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.
Dòng thời gian chảy đá mòn sông núi lở. Xa cách rồi lòng ta vẫn nhớ nhung. Hồ Zếnh.
Nhớ thương nước Việt-Nam buồn. Nhớ thương Ninh-Thuận cố hương xa rồi. Nhớ ngày cạn chén ly bôi. Là từ ngày ấy tôi rời Phanrang. Đến nay mấy độ thu tàn. Đến nay mấy độ xuân sang, hè về. Bụi đường cách trở sơn khê. Phanrang giờ ánh trăng thề còn không? Nhớ thương đoài đoạn tấc lòng! Phanrang yêu dấu vẫn mong ngày về.
Phanrang có ánh trăng mơ. Phanrang là một trời thơ hữu tình. Dù cho sóng gió điêu linh, Phanrang tôi mãi bình minh tuyệt vời.
Tìm hai bạn Lê Quốc Minh và Phan Văn Giỏi, cả hai trước kia là cựu học sinh Duy Tân, cựu thiếu úy C.Sát, cựu tù nhân trại tù Sông Cái của cộng sản. Khi qua Mỹ gia đình anh Minh định cư ở thành phố Buffalo, New York. Còn bạn Giỏi ngụ tại tiểu bang Minnesota. Nay hai bạn ở đâu xin vui lòng cho người bạn già này biết tin tại "antr95@ hotmail.com". Bạn nào biết tin, làm ơn cho tôi vài dòng liên lạc tại địa chỉ nêu trên. Xin thành thật cám ơn. Đạolong-Phanrang.
Có mấy bài nói về Dịch Cân Kinh sưu tầm bỏ lên đây để quý vị và các bạn đọc cho vui!
Đạt Ma Dịch Cân Kinh
(Nguyên bản Việt ngữ của Bác sĩ Lê Quốc Khánh đăng trong nhật báo Người Việt ở Hoa Kỳ)
Bài này được đăng trên nhật báo Người Việt lần đầu vào ngày 17 tháng 11 năm năm 2000. Tiếp theo trên số báo ra ngày 24 tháng 2 mới đây cũng đăng thêm bài Kinh nghiệm Tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh. Nay do sự yêu cầu của nhiều độc giả, chúng tôi in lại bài đầu tiên về Dịch Cân Kinh để độc giả tiện tra cứu và tìm hiểu thêm.
Lời thưa:
Sau khi đọc lần đầu tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh, tôi chỉ mỉm cười, không mấy tin tưởng vì thấy phương pháp chữa trị những bịnh nan y một cách dễ dàng và quá đơn giản.
Tôi cũng xin tự giới thiệu để quý vị thấy rằng tôi đã được đào tạo và phục vụ Tây y qua nhiều thời kỳ. Đến nay tôi đã có bốn mươi chín năm y nghiệp, đã từng làm việc trong các bịnh viện Quân và Dân Y lớn nhất nhì trong nước Việt Nam Cộng Hòa, đã từng làm việc với người Pháp. Mỹ và Phi Luật Tân; đã từng là cộng sự viên của Bác sĩ Đinh văn Tùng, nghiên cứu chữa trị bịnh ung thư qua phẫu thuật (1936-1965). Tôi muốn nói rằng tôi có lý do để tin tưởng Tây y là một ngành khoa học có nhiều thành tích đáng tin cậy trong việc bảo vệ sức khỏe của con người. Cũng vì vậy mà tôi gần như có thái độ thờ ơ khi tiếp nhận Đạt Ma Dịch Cân Kinh.
Thế rồi một hôm, có người bạn cùng tuổi với tôi (sanh năm 1932) đi xe đạp ghé thăm. Tôi được nghe anh kể là anh đã khám bịnh ở Bịnh viện Chợ Rẫy, qua các xét nghiệm y khoa tối tân và các bác sĩ đã định bịnh cho anh:
* Ung thư gan
* Lao thận.
Anh thấy hoàn toàn thất vọng. Vì nếu vấp phải một trong hai chứng bịnh ấy cũng đủ chết rồi, huống chi mắc cả hai chứng bịnh nan y cùng một lúc. Cuối cùng anh có được tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh. “Cái phao mà anh đã níu được khi đang chới với giữa biển khơi” . Anh cố gắng tập, kiên trì thực hiện theo đúng tài liệu, và kết quả là anh đã thắng bịnh tật. Hiện nay anh sống khỏe mạnh bình thường, làm việc hớt tóc, có khi anh phải đứng hàng giờ để làm công việc, thế mà anh vẫn bình thường như bao người khác.
Từ đó đến nay, đã bốn năm, anh vẫn tập đều đặn. Nhìn tư thế và sắc diện, không ai nghĩ là anh đã mắc phải bịnh nan y. Thỉnh thoảng anh đi xe đạp đến thăm tôi. Cũng từ đó, tôi chú tâm nghiên cứu Dịch Cân Kinh. Đầu năm 1986, tôi đã truyền đạt tài liệu này cho một người bạn trẻ bị bịnh lao phổi, không được điều trị đúng cách vì hoàn cảnh bản thân cũng như xã hội vào thập niên 80. Cuối cùng anh đã gầy guộc chỉ còn có 32kg trong cơ thể suy nhược, đã mấy lần cứ tưởng là không qua khỏi. Và anh đã vớt vát chút hy vọng còn lại, anh đã tập Yoga. Kết quả cơ thể có phần nào phục hồi nhưng vẫn yếu đuối. Suốt mùa Đông, anh vẫn không ra khỏi nhà, nhìn sắc diện, vẫn lộ những nét bịnh hoạn.
Sau khi nhận được tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh , anh đã cố gắng kiên trì luyện tập, thời gian đầu bạn tôi cũng gặp những phản ứng như ghi trong tài liệu. Dần dần anh qua được bước đầu vất vả, và gần cuối năm 1986, sau bốn tháng luyện tập, anh đã ho tống ra một khối huyết cứng to bằng trứng chim cút, và sau đó anh từ từ hồi phục sức khỏe, da dẻ hồng hào, vẻ mặt vui tươi, và mãi đến nay anh vẫn giữ được sắc thái của người bình thường không bịnh hoạn.
Một trường hợp khác, bạn tôi, sinh năm 1931, bị bịnh Parkinson đã bốn năm nay, đã chữa trị Đông, Tây y, thuốc gia truyền và nhân điện...Lẽ dĩ nhiên là bịnh không khỏi. Vì bịnh Parkinson cho đến nay, loài người vẫn bó tay.
Sau khi nghiên cứu và luyện tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh, bạn tôi cũng gặp phản ứng như ghi trong tài liệu. Tuy vậy, anh vẫn kiên trì tập đều đặn. Tuy hiện nay bịnh Parkinson không lành hẳn, song bịnh được ngăn chận giới hạn ở mức chỉ rung có hai bàn tay. Còn các khớp, nhất là khớp tay và chân, vẫn cử động bình thường, không gặp một khó khăn trở ngại nào mà lẽ ra, đúng theo các triệu chứng điển hình, thì bịnh càng lâu, các khớp bị cứng và hạn chế cử động cho đến một lúc nào đó sẽ bị cứng khớp, không cử động được nữa. Bịnh kéo dài bốn năm nay nhưng anh vẫn sinh hoạt bình thường, có nghĩa là bịnh bị ngăn chận ở một mức độ có thể chấp nhận được.
Một trường hợp nữa là một anh bạn sinh năm 1930 bị béo phì, cao huyết áp, rối loạn tiêu hóa kinh niên. Từ hơn ba mươi năm nay, anh đã dùng vô số thuốc Đông, Tây y và châm cứu nhưng vẫn quanh quẩn hết chứng này đến tật khác, không ngày nào vắng thuốc. Anh đã tiếp nhận Dịch Cân Kinh, và sau thời gian tập luyện cũng có những phản ứng như đã ghi trong tài liệu, và sau đó, anh phục hồi sức khỏe, nhất là rối loạn tiêu hóa không còn nữa, ít khi phải dùng thuốc trị cao huyết áp. Anh ca ngợi Dịch Cân Kinh là môn thuốc trị bá bịnh.
Qua bốn trường hợp mà tôi đã theo dõi hai năm nay, chưa phải là nhiều, tôi đã phải công nhận Đạt Ma Dịch Cân Kinh là một phương pháp chữa được nhiều bịnh hiểm nghèo mà hiện nay Tây y nhiều khi phải bó tay.
Đọc qua tài liệu Dịch Cân Kinh, chúng ta thấy vấn đề kỹ thuật luyện tập không có gì khó khăn, rất dễ tập. Điều cần nhấn mạnh ở đây là ý chí, quyết tâm. kiên trì và thường xuyên. Nếu vượt qua được những điều này, tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ gặt hái được những kết quả mỹ mãn.
Năm 1943, khi giảng lớp Quân y Khóa 1, Phân khu Bình Trị Thiên và Trung Lào, thầy tôi, Bác sĩ Bùi Thiện Sự đã nói: “Nghề nghiệp của chúng ta có nhiệm vụ cao cả là phụng sự và làm vơi đi những đau khổ của nhân loại”. Để ghi nhớ lời dạy ấy của Thầy, tôi nguyện truyền đạt cho bất cứ ai, những gì mà tôi nghĩ sẽ giúp ích được cho mọi người.
Bây giờ tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh đối với tôi là một phương thuốc quý giá giúp cho đời. Tôi đã hối hận về nỗi thờ ơ của mình buổi ban đầu, khi mới tiếp nhận tài liệu này.
Miền Đông ngày 7 tháng 3 năm 1997
Bác sĩ Lê Quốc Khánh
Sự Tích Đạt Ma Dịch Cân Kinh
Năm 917 (sau Tây lịch), Đạt Ma Tổ Sư Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp và truyền giáo, sau ở lại Trung Sơn, Hà Nam, xây dựng chùa Thiếu Lâm, đã có nhiều đệ tử nhập môn học Phật để mai sau đi truyền giáo. Ông nhận thấy nay đem một tín ngưỡng đi truyền tụng có khi trái với tín ngưỡng của dân bản xứ, dễ xảy ra xung đột. Do vậy các đệ tử của ông vừa lo học lý thuyết Phật Pháp vừa phải luyện võ để tự vệ (Môn phái Thiếu Lâm xuất hiện và tồn tại đến ngày nay).
Nhiều người xin nhập môn nhưng thể lực kém, không thể luyện võ được, Tổ Sư bèn truyền đạt một phương pháp luyện tập được gọi là Đạt Ma Dịch Cân Kinh để chuyển biến thể lực yếu kém thành mạnh khỏe. Cách tập đơn giản nhưng hiệu quả to lớn vì tiêu trừ được các bịnh tật hiểm nghèo.
Ngày nay người ta nghiên cứu là phương pháp này chữa được rất nhiều bịnh, ngay cả bịnh ung thư cũng khỏi và bây giờ người ta áp dụng lý thuyết khí huyết của Đông y để chứng minh. Sức khỏe của con người liên quan chặt chẽ với khí huyết, về điều này thì ta thấy rõ ràng.
Trong Đông y, cái gọi là huyết thì không thể hạn chế và tách ra từng mặt như máu loãng hay đặc, hồng cầu nhiều hay ít, sắc tố như thế nào...mà nghiên cứu, mà dùng cách nhìn nhận toàn diện của quá trình sinh lý và quá trình tuần hoàn của huyết mà xem xét. Theo Đông y, một khi khí huyết không thông là tắt kinh lạc, do vậy các phế vật trong cơ thể cần thải mà không thải ra được. Vì máu lưu thông chậm, nên các chất keo, dịch, gân và các chất khô... không đủ nhiệt năng nên công năng của máu giảm sút không thể thải được những chất cần thiết trong cơ thể ra ngoài.
Luyện Dịch Cân Kinh, tay vẫy đúng phép, miệng, dạ dày mở, máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ, làm các vật chèn ép mất thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ thì mới khỏi bịnh.
Vậy theo Dịch Cân Kinh, cơ hoành lên xuống dễ dàng, ruột, dạ dày, thận tiếp được khí nên gây được tác dụng hưng phấn. Khi chức năng của máu tăng, thì giúp được việc tống cựu nghinh tân tốt, khí huyết thăng bằng là khỏi bịnh. Một số người sau đây đã luyện tập Dịch Cân Kinh có hiệu quả:
* Cụ Quách Chu, 78 tuổi, phát hiện u ở não và ở phổi. Luyện tập ngày ba buổi. Mỗi buổi 1800 lần. Tập đều sau ba tháng thì tan khối u và khỏi bịnh.
* Ông Trương Công Phát, 43 tuổi, phát giác ung thư máu, luyện tập Dịch Cân Kinh ngày 3 buổi, mỗi buổi 4800 lần (có dùng dưỡng tâm can), sau ba tháng khỏi bịnh. Đã ba năm nay vẫn khỏe mạnh.
* Cụ Từ Mạc Đính, 60 tuổi, ung thư phổi, và bán thân bất toại. Luyện tập sau 3 tháng thì hết bán thân bất toại, kiểm tra khối u cũng tan mất.
Nguyên nhân bịnh ung thư trên thế giới đang bàn cãi, ngay thuốc dưỡng tâm can cũng không phải là thuốc đặc hiệu chữa trị mà là giúp tim hoạt động tốt để thải chất độc.
Vì quá trình sinh lý cơ thể của con người là một quá trình phát triển, nó mang một nội dung đấu tranh rất phức tạp giữa cái sống và sự chết. giữa lành mạnh và bịnh tật, giữa già háp và trẻ dai. Nhưng kết quả cuộc đấu tranh là các nhân tố nội tại quyết định chớ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.
Vậy cơ thể con người là một chỉnh thể hoạt động. Trong vận động các lục phủ ngũ tạng đều dựa vào nhau tức là tương sinh, ức chế lẫn nhau tức là tương khắc. Nhưng khí huyết có tác dụng đến khắp tất cả các lục phủ ngũ tạng, cho nên việc phát sinh bịnh ung thư cũng do khí huyết lưu thông không chu đáo mà ra. Đông y đã xác định là cuộc đấu tranh của cơ thể với bịnh ung thư là một cuộc đấu tranh nội bộ ở trong cơ thể con người. Từ đó mà xây dựng quan điểm cho rằng bịnh ung thư là bịnh chữa được.
Đương nhiên bịnh tật là do sự trì trệ khí huyết mà nó làm cho hao tổn thêm khí huyết. Vậy công việc luyện tập cho khí huyết thay đổi là tự chữa được bịnh. Từ đó mà tạo được lòng tin vững chắc của người bịnh đối với việc tự chữa được bịnh ung thư, để tập trung tinh thần và ý chí đầy đủ để luyện tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh, vì phương pháp này thay đổi và tăng cường khí huyết. Nó cũng chữa được bịnh trĩ nội và trĩ ngoại. Ông Hà Thúc Nguyên bị trĩ nội và chứng đầy bụng, chỉ tập một tháng là khỏi. Luyện tập Dịch Cân Kinh thấy ăn tốt ngủ ngon là việc phổ biến tốt, đã làm tăng sức khỏe các bịnh nhân nói chung và chữa được nhiều chứng bịnh như : suy nhược thần kinh, cao huyết áp, bịnh tim các loại, bán thân bất toại, bịnh thận, hen suyễn, lao phổi, trúng gió méo mồm và lệch mắt.
Đông y cho rằng vấn đề cơ bản của bịnh tật là do khí huyết (âm, dương) mất thăng bằng mà sanh ra. Luyện Dịch Cân Kinh là giải quyết vấn đề này. Nên đối với đa số các loại bịnh, nhất là bịnh mãn tính đều có thể chữa được cả.
Phương Pháp Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Đầu tiên là nói về tư tưởng:
Phải có hào khí, nghĩa là có quyết tâm luyện tập cho đến nơi đến chốn, vững vàng, tin tưởng, không vì lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.
Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bịnh mà mọi người gọi là hiểm nghèo, phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng bịnh do việc luyện tập Dịch Cân Kinh.
Tư Thế Luyện Tập:
1. Lên không xuống có: Trên phải không, dưới nên có. Đầu treo lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng thẳng, thắt lưng mềm dẻo, hai cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay mềm, hai bàn tay ngửa ra phía sau xòe ra như cái quạt. Trong khi vẫy, hậu môn phải thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bám chặt như bám trên đất trơn. Đây là những quy định cụ thể của các yêu cầu cơ bản khi tập luyện Dịch Cân Kinh.
2. Dựa theo yêu cầu này, khi tập vẫy tay thì cơ hoành trở lên phải giữ cho được trống không, buông lỏng, thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc luyện tập. Xương cổ buông lỏng để có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhên, không mím môi, ngực trên buông lỏng để phổi tự nhiên. Hai cánh tay để tự nhiên giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám sát mặt đất, gót chân để phẳng lên mặt đất. Bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương sống thẳng như cây gỗ. Khi vẫy tay nhớ nhẫm câu: “Lên có xuống không”. Nghĩa là lấy sức vẫy tay về phía sau (lên), khi tay trả lại phía trước là do quán tính, không dùng sức đưa tay ra phía trước (xuống).
3. Trên ba dưới bảy : Là phần trên để lỏng độ ba phần khí lực, phần dưới lấy gân sức độ bảy phần khí lực. Vấn đề này quán triệt đầy đủ thì hiệu quả sẽ tốt.
4. Mắt nhìn thẳng : không nghĩ ngợi gì cả, miệng nhẫm đếm số lần vẫy.
Các bước tập cụ thể như sau :
a) Đứng hai bàn chân bằng khoảng cách hai vai.
b) Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, các ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay ra phía sau.
c) Bụng dưới thót lại, lưng thẳng. Bụng trên co lại, cổ để lỏng, đầu và miệng bình thường.
d) Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót sát đất, bắp chân và đùi chân căng thẳng.
e) Hai mắt chọn một điểm ở đàng xa làm mục tiêu để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, luôn chú ý vào các ngón chân đang bám đất. Đùi và bắp chân cứng. Thót hậu môn thật chặt và nhẩm đếm.
f) Dùng sức vẫy hai tay về phía sau, khi trả hai bàn tay về phía trước, chú ý để nó buông theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức. Tuy nhiên chân vẫn lấy gân cứng lên, hậu môn vẫn thót và co lại không lơi lả.
g) Vẫy tay từ 200, 300, 400, 500, 600, 700 lần, dần dần tăng lên đến 1800 lần vẫy (tương đương với 30 phút).
h) Phải có quyết tâm đều đặn tập trung vào sự luyện tập, không nên nóng, tập nhanh, tập nhiều vì dục tốc bất đạt. Nhưng cũng không nên tùy tiện, bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì như vậy sẽ làm mất lòng tin trong sự luyện tập, khó có hiệu quả.
Bắt đầu tập luyện, không nên làm tổn thương các ngón chân (Sau mỗi buổi tập, vuốt ve các ngón chân mỗi ngón chín lần). Nôn nóng muốn khỏi bịnh này mà dùng nhiều sức sẽ không đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến dần mới đúng cách và kết quả tốt. Nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán thì khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên nặng dưới nhẹ” là sai hỏng.
Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thì thường hay có trung tiện (đánh địt), hắt hơi và hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng..... chỉ là hiện tượng bình thường, đừng lo ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với vũ trụ là “Thiên khinh Địa trọng” (Trên nhẹ dưới nặng), đấy là quy luật sinh hợp với vũ trụ: Thiên khinh Địa trọng.
Sở dĩ bịnh gan là do khí huyết của tạng gan không tốt gây nên khi bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết. Do đó ảnh hưởng đến ống mật và cả tỳ vị. Luyện Dịch Cân Kinh có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là kết quả tốt.
Về bịnh mắt, luyện Dịch cân kinh là có thể khỏi chứng đau mắt đỏ với các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí chữa được cả chứng đục thủy tinh thể. Trong nội kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được. Khi khí huyết không dẫn đến được các bộ phận của mắt thì thường sinh ra các bệnh tật của mắt.
Đôi mắt là bộ phận của thị giác và cũng là bộ phận quan trọng của cơ thể.
Những Phản Ứng Khi Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Khi luyện tập, cơ thể có những phản ứng nhưng tất cả đều là hiện tượng thải bịnh, không nên lo nghĩ. Sau đây là 34 phản ứng thông thường và còn nhiều phản ứng khác không kể ra hết được.
15. Âm nang to lên, 16. Lưng đau, 17. Máy mắt mi giật
18. Đầu nặng, 19. Hơi thở nhiều, 20. Nấc, 21. Trung tiện
22. Gót chân nhức như mưng mủ, 23. Cáu trắng dưới lưỡi
24. Đau mỏi toàn thân, 25. Da cứng, da chân chai rụng đi,
26. Sắc mặt biến đi,27. Huyết áp biến đổi, 28. Đại tiện ra máu,
29. Tiểu tiện nhiều, 30. Nôn mửa, ho, 31. Bịnh từ trong da thịt bài tiết ra,
32. Trên đỉnh đầu mọc mụt, 33. Ngứa từng chỗ hay toàn thân,
34. Chảy máu cam.
Các phản ứng trên đây là do trọc khí bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ các thứ ứ đọng gọi là bịnh tật. Khi có sự phản ứng là có sự xung đột giữa chánh khí và tà khí, nếu ta vẫn tập luyện sẽ sản sinh ra các chất bồi bổ có lợi cho chánh khí. Ta tập đúng cách và làm tăng sức đề kháng, nó đẩy cặn bã trong cơ, gan, thần kinh và các tế bào khác mà mạch máu lưu thông bình thường không thải nổi.
Nhờ luyện tập Dịch Cân Kinh mà khí huyết lưu thông mới đưa nổi cặn bã ra ngoài nên mới sinh ra phản ứng. Vậy không nên lo sợ, cứ tiếp tục tập như thường. Có một phản ứng hiển nhiên là đã khỏi một căn bịnh. Cứ tập luyện đều đặn sẽ đạt hiệu quả tốt.
Luyện tập dịch cân kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau
Nội trung:
Tức là nâng cao can khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết. Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu.
Tứ trưởng tố:
Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc luyện tập. Tứ trung tố song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
Ngũ tam phát:
Nghĩa là 5 trung tâm của nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn lúc bình thường. Đó là :
Bách Hội: Một huyệt trên đỉnh đầu,
Gio cung: huyệt ở hai bàn tay,
Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân.
Khi luyện tập thì 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt . Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả, nó làm tăng cường thân thể, tiêu trừ các bịnh nan y mà ta không ngờ.
Lục phủ minh:
Đó là ruột non. ruột già, mắt, dạ dày, bong bóng tam tiêu sẽ thông suốt, nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi nên không trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.
Một số điều cần lưu ý khi luyện tập
1. Số lần vẫy tay: không dưới 800 lần, từ 800 lần trở lên dần dần đến 1800 lần (khoảng 30 phút) mới tới ngưỡng cửa của điều trị. Người bịnh nặng có thể ngồi mà vẫy tay, tuy nhiên phải nhớ thót hậu môn và bấm 10 đầu ngón chân.
2. Số buổi tập: Sáng thành tâm tập mạnh, Trưa trước khi ăn tập vừa. Tối trước khi ngủ tập nhẹ.
3. Có thể tập nhiều tùy theo bịnh trạng: Có những bịnh nhân nâng số lần vẫy tay lên đến 5 hay 6 ngàn lần trong mỗi buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ tốt, tiểu và đại tiện thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi luyện tập là thích hợp.
4. Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm. Bình thường thì vẫy 1800 lần là hết 30 phút. Vẫy lúc sau hơi nhanh hơn lúc đầu một chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng. Bịnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn. Bịnh nặng thì nên vẫy hẹp vòng và chậm, bớt dùng sức. Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh, mau mệt, mà chậm quá thì không đạt tới mục đích. Vì luyện tập là cần có mạch máu lưu thông.
5. Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ: Vẫy tay là môn thể dục chữa bịnh chớ không phải là một môn thể thao khác biệt. Đây là môn thể dục mềm dẻo, đặc điểm của nó là dụng ý không dùng sức, nhưng nếu vẫy tay nhẹ quá cũng không tốt, bởi vì bắp vai không lắc mạnh thì lưng và ngực không chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm đi. Vẫy tay không chỉ có chuyển động cánh tay mà chính yếu là chuyển động hai bắp vai. Bịnh phong thấp thì nên dùng sức ở mức nặng một chút. Bịnh huyết áp thì nên dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay chậm.
Nói tóm lại phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân tích các triệu chứng sau khi nghe sự nhận xét của mọi người, tự mình cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể: nhanh nhẹn, hồng hào, tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự mình suy nghĩ rồi quyết định cách tập trên nguyên tắc là tập thế nào cho cảm thấy thoải mái, dễ chịu là đúng, là tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích (ích lợi cho cơ thể), còn động tác mạnh là loại bỏ các chất cặn bã có hại cho cơ thể (bệnh tật). Lý luận này đang được nghiên cứu.
Khi vẫy tay về phía sau dùng sức bảy phần. Khi vẫy tay về phía trước thuộc về quán tính, còn chừng 5 phần.
Đếm số lần vẫy tay, đếm không phải để nhớ mà có tác dụng làm cho đầu óc bình tỉnh, có tác dụng tốt cho não được căng thẳng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân âm được bồi dưỡng.
Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn): Không có khác biệt, ở nơi đâu cũng tập được. Dĩ nhiên nơi nào không khí trong lành và yên tĩnh vẫn tốt hơn.
Trước và sau khi tập: Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho tim được thoải mái, đầu óc được yên tĩnh để chuyển hóa về tâm lý và sinh lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng, thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình tĩnh vê 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân đủ 9 lần. Người không đủ bình tĩnh, nên cần chú ý đến điểm này,
Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép: Sau khi tập thấy ngứa và bụng nhẹ nhàng, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước giải ứa ra nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ tốt, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép. Sau khi luyện tập, đa số thấy có phản ứng, nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau. Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có thích hợp với người tập hay không.
Khi tập cần chú ý các điểm sau đây:
Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư).
Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực),
Khi tay trả về phía trước, không dùng sức (nhẹ),
Tay vẫy về phía sau, dùng sức (nặng, mạnh),
Mỗi lần tập tăng dần số lần vẫy tay.
Tập ngày 3 buổi, kiên quyết tự chữa bịnh cho mình.
1. Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập luyện: Hết lòng tin tưởng, kiên quyết tới cùng. Tập đủ số lần nhứt định, tập thường xuyên thì hiệu quả rất tốt. Nếu khi tập khi nghỉ, không đủ số lần tập nhất định, trong lòng còn nghi hoặc, bị động theo dư luận, thấy phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định không hiệu quả.
2. Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không ? Có thể sinh bịnh do tư thế không đúng, làm sai nguyên tắc. Nhưng trong trường hợp này cũng hãn hữu, không tới 1%.
3. Khi tập nên tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn mùa đông. Tóm lại cần lưu tâm những điểm sau:
Khi tập luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất.
Thót hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ thế “thượng hư hạ thật”.
Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1800 trở lên mới có hiệu quả.
Khi gặp phản ứng đừng ngại, đó là diễn biến tốt, cứ tập số lần như cũ. Khi hết phản ứng sẽ tăng số lần vẫy tay lên.
Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tưởng, tập luyện tới cùng, chắc chắn sẽ đẩy lùi các bịnh tật ta đang mắc phải.
Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bịnh mà còn là một phương pháp phòng bịnh rất hữu hiệu.
Lòng chợt lặng …khi nhớ về quê cũ Bao buồn vui , những tháng ngày ấp ủ, Soải cánh bằng, ta ước được như chim Bay về nơi ký ức vẫn kiếm tìm Để bù lại những niềm thương nỗi nhớ
Dù xa xôi bởi không gian cách trở Vẫn hoài mong ngày thấy lại quê xưa Cùng bạn bè sum họp dưới bóng dừa Bên biển xanh, bên họ hàng thân quyến
Có bao giờ ta thấy lòng lưu luyến Bởi bạn bè chợt gặp lại nơi đây Lòng rộn ràng, mặt nhìn mặt bắt tay Để tìm lại nét thân quen ngày cũ
Cùng hàn huyên chuyện tràn như nước lũ Để thấy lòng chợt rộn rã xôn xao Lòng dậy lên hình ảnh của ngày nào Mà bỗng gần năm mươi năm đằng đẵng
Có bao giờ ta thấy lòng trống vắng Bởi tìm đâu những khuôn mặt thân quen Nhớ như in, những tập vở dưới đèn Quyển “ Lưu Bút “ thuở xưa…Ngày hè đến
Từng khuôn mặt của bạn bè thân mến Mà thời gian có chờ đợi ai đâu Tóc pha sương đã phủ kín mái đầu Rồi ai cũng đi về miền “Đất hứa “
Chi lạ hỉ ! Nói chuyện chi ghê rứa ? Cứ thản nhiên mà sống ! Có chi mô ? Đời vô thường….như chuyện của sông hồ… Phải vậy không ? Hở “ Mấy đứa tụi mình “ thân mến !
không phải là người cùng lớp, nhưng cũng muốn góp 1 chút ý kiến khi đọc thơ của cô, thơ mộc mạc xúc tích, không biết cảm xúc nào đã cho cô viết bài hay như thế?
Tiếng đồn con gái PhanRang Đầu đội cái rế, vai mang cái gùi ( ca dao dân gian )
Tôi về tắm mát giếng trong Anh về khơi lại dòng sông quê nhà, Từng rẫy bắp, hàng luống cà Vẫn nghe thắm đượm hương hoa bưởi nồng, Tôi đây phận gái má hồng Chẳng làm chi được, ngưỡng mong ngày về, Dù cho cách trở sơn khê Dù cho khổ nạn ê chề đớn đau , Dù cho dốc đứng đèo cao Dù cho lạc bước cũng mau ngược dòng, Để về tưới mát ruộng đồng Để mà thấy được tấm lòng cố hương, Dẫu rằng tóc đã pha sương Vẫn lòng dũng bước con đường đã đi, Sắt son còn một chút nì Quê hương còn đó, thì chi mà ngờ ! Hỏi rằng , lòng có dại khờ Nạn tai còn đó, giấc mơ hảo huyền, Đành rằng phận gái thuyền quyên Đầu đội cái rế, vai chuyên mang gùi, Dẫu rằng tất tả ngược xuôi Cũng cam phận chịu, mà nuôi mộng lành, Mong sao con được nên danh Bỏ công dưỡng dục sanh thành năm nao, Ầu…ơ…Hát khúc ca dao Câu ca còn đó, năm nào vẫn in, Ví dầu…. cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo… gặp ghình khó đi, Khó đi… , mẹ cũng dắt con đi Con đi trường học.., mẹ đi trường đời.
Ngày dài 30 tháng 4 năm 1975, mang lại tù đày cho cả miền Nam, và cảnh đời đã đổi trắng thay đen đưa đến sự đói khổ, sự tụt hậu cả một Dân Tộc, trầm luân bất tận cho đến bây giờ mà chưa có lối thoát ?! Sau khi cưởng chiếm miền Nam, CS Việt Nam thiết lập hơn 270 trại tù trong vùng rừng sâu nước độc, trải dài từ Bắc đến Nam; giam giữ hơn 1.000.000 Quân, Cán, Chính và dân lành vô tội!. Cựu quân nhân và công tư chức trình diện tại vùng Sàigòn- Gia Định tập trung tại Trại Long Giao - Suối Máu thuộc tỉnh Biên Hòa; khởi đầu theo lệnh học tập 10 ngày; hết 10 ngày, qua 1 tháng; rồi lại hết một năm và sau cùng chuyển tù đày ải ra Bắc.
Tù chuyển ra Bắc
Cuối tháng 6/1976, đa số tù nhân được chuyển bằng tàu thủy, rồi chuyển bằng tàu hỏa, đường bộ về Hoàng Liên Sơn. Những năm đày ải ra miền Bắc là thời gian tàn lụn nhất; đói khát, bệnh tật chết vì không thuốc men, không người thân thăm viếng v.v.. Liên trại 6 tại vùng núi Hoàng Liên Sơn, lồng chảo Điên Biên Phủ núi đồi hiểm hốc, vắng bóng người qua lại, là vùng tử địa cướp xác tù dễ dàng khi lâm bệnh! Người tù chịu bao nỗi cực hình, lại thêm biệt âm vô tín! Ngày ngày lao động nặng nhọc. Sáng sớm rời khỏi cổng trại, cốá gắng vượt khỏi 3 ngọn đồi có hình nấc thang nằm về hướng Tây bắc trại, tù đặt tên là Đồi Ba Dội. Vừa leo lên đến đỉnh đồi thứ ba, khoảng 11AM với ánh nắng hanh vàng đang chói chang dưới chân đồi. Người tù đứng trên ngọn đồi được bao phủ cả một áng mây trắng đục, lành lạnh, chỉ đứng cách xa 1 thước vẫn không thấy nhau; mây đang bay lơ lửng, bay lang thang vay kín cả khu núi đồi trùng điệp. Cảnh đẹp thơ mộng này, người tù như đứng giữa cảnh Thiên thai?!. Vừa mơ mộng như sắp vào Thiên đàng; lại vừa lo sợ sắp rơi ngã vào vực thẩm tại vùng SơnLa đày ải?! Sơn la đỉnh cao Đồi Ba Dội, Mây trắng bay buốt lạnh thân tù, Miền hoang dã, ngục tù tăm tối! Sao cảnh hư vô quá bẽ bàng?!. Chưa kịp nghỉ ngơi 5 – 10 phút, lại tiếp tục lục lạo, xông xáo tìm kiếm cây nứa, cây vầu đúng kích cỡ ấn định, vội vàng chặc 10 –12 cây, buộc thành bó từ đỉnh núi cao lại lần mò vác hết bó nứa về trại. Mồ hôi ướt đẫm cả áo quần, bụng dạ thì đói nhưng đến giờ ăn chỉ có sắn khoai thay cơm, vắt vừa tròn nắm tay. Nơi đây, núi rừng khí hậu nghiệt ngã, rừng sâu nước độc, anh em gọi là Tổng Đàn của bọn Hắc đạo trong truyện Kim Dung; là nơi bọn người dùng tà thuyết hãm hại giết dần những người chống lại chúng!. Sống trong cảnh tuyệt vọng vô vàn này thấy mà thảm thương!
MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT
Trời rét quá càng thêm thấy lạnh Cảnh đọa đầy cơm áo mong manh Núi rừng sâu, một mầu xanh cỏ Đá gập ghềnh, chôn giấu thân anh! Ngày hai bữa, khi sắn lúc khoai Cơm thiếu ăn đào xới củ mài Sâu một trượng thêm vài ba quả Gửi vào lòng chẳng thấy ngày mai! Áo anh loang lổ, quần tơi tả Sương gió bạc mầu lẫn mồ hôi Đường anh đi, phải chăng mai một Hận cho đời đen bạc thế thôi!. Đồi cao vách đá quá cheo leo Thân anh trôi giạt như cánh bèo Ngập đầy dông tố mưa dài khổ Chống đở cơn đau vững tay chèo! Đêm nay gió lạnh đặc mù sương Ngục tù đen tối khắp nẻo đường! Người nối người nhìn nhau đói khát, Màn trời chiếu đất thấy mà thương!.
Mùa này lại tiếp nối mùa khác; những đêm có trăng, tường vách khu trại còn trống trải vừa mới che tạm bợ; đêm khuya càng hiu quạnh, sương lạnh đắp bờ vai; trăng tỏa khắp vùng trời bao la, khắp núi đồi hoang vu và nơi đây những láng, trại đang còn ngổn ngang. Tù nhân ngày lao động vất vả, tối đến mệt mỏi, ngất lịm trong cơn đói đang cồn cào giằn vặt, đang mơ màng trong lúc ngủ; ánh trăng len lén xuyên qua khe tường, vách lá; trăng đến rồi đi trong giấc mộng bâng quơ !. Nỗi buồn nào, mà không xót xa ?! khi nhìn trăng vời vợi..
Nhìn Trăng
Nhìn trăng nghiêng bóng qua song Vừa thương vừa nhớ sầu đông lại về Em ơi! Nhớ giữ lời thề Sau cơn bão táp anh về với em Mùa đông rét mướt thâu đêm Anh nằm canh cánh bên phên gió lùa Gió đưa, gió thổi rì rào Vợ Nam chồng Bắc ngày nào gặp nhau?! Trăng buồn vượt đĩnh non cao Len vào song cửa vấn an bạn đời Đêm nay trăng đến bên lòng Lồng chim khóa chặt từng vòng kẽm gai Ước mơ sớm gặp ngày mai Cho trăng hết vướng bờ gai đầu tường .
Nơi đây không có ngày về, ngày về còn xa lơ, xa lắc; chỉ thấy mỗi ngày cứ thêm rơi rụng từng người, từng người vội vả ra đi!! Kiếp đọa đày lao động khổ sai; đói khát, bệnh tật cứ triền miên!. Ngày lại ngày tiếp tục băng rừng vượt suối, đốn gổ xẻ rừng và mong nhặt thêm ít khoai, đào thêm ít củ nừng, củ chuối; bắt cóc, nhái v.v.. chui lòn bao tử ! Nỗi buồn tủi, lúc nhớ vợ thương con, khi tưởng đến cha mẹ già, càng ngậm ngùi..
Nhớ Mẹ
Tôi có mẹ già tóc bạc phơ Mẹ tôi hiền, đẹp tựa bông hồng Danh lẫy lừng, vang khắp thiên hạ Sáng ngời xanh, Hòn Ngọc Viễn Đông . Tuổi hai mươi thế kỷ vàng son Tôi lớn lên mẹ con vuông tròn Mẹ thương con, con nhớ thương mẹ Tình mẫu tử dạt dào siết khôn . Thưa mẹ, Trong dĩ vãng con làm tất cả Dâng lẽ sống con giữ quê hương Máu từng chảy loang hòa vào nước Thấm vào đời, con mến muôn phương . Nhớ những chiều Đàlạt sương rơi Đây Vũng tàu gió lộng bể khơi Sàigòn xinh tươi, như Hoa Đăng Hội Sức sống vươn lên nhộn nhịp đời . Thôi là hết mùa hoa chớm nở Tủi phận mình chưa rửa nợ trần Bao tháng ngày, mặt trời đi ngủ Lạnh ngoài đời, lạnh khắp châu thân!. Bao tủi nhục, căm hờn xót xa Bao cay đắng, nhớ thương mẹ già Con mong đợi, mặt trời thức dậy Cho mẹ con gặp nhau đậm đà.
**
Cuối năm 1978, để tránh cuộc chiến tranh giữa hai nước từng là anh em thân thiện nhất, cùng tôn thờ một Chủ nghĩa cực đoan; gọi là XHCN, ViệtNam & Trung cộng!. Tù các vùng dọc theo biên giới gấp rút chuyển về miền bình nguyên, chúng tôi được chuyển về Trại Nam Hà B. Trại này có hỗn danh gọi là Trại Đầm Đùn nói lên sự cai quản cũng gian ác, đày đọa kinh tởm. Kể từ nay, Bộ Đội trao lại quyền quản chếù cho Công an. Sách lược của chúng là giam giữ tù, ngày càng làm tiêu hao sức lực; bỏ đói khát và bắt buộc lao động khổ sai, đau ốm chết chóc càng nhiều càng tốt! Mặt khác CS lại đặc ân cho một số người hèn nhát, tiếp tay làm tay sai cho chúng, những tên đốn mạt này, anh em thường lánh xa, cách biệt và họ chỉ biết trơ trẻn thủ phận một mình, thấy mà thương hại! Về đến Nam Hà, trại xây cất rộng lớn, có tường đá cao bao bọc kiên cố, mỗi gian nhà có thể chứa 200 người; nhốt tù vào các dãy phòng, chật cứng người sát người, dơ dáy và ngột ngạt. Phòng ở kín đáo, nên mỗi chiều sau giờ điểm danh, khóa cửa, anh em lại có dịp gần gủi nhau, chia sẻ an ủi nhau; hoặc tụm năm, tụm bảy kể chuyện, đọc thơ, ca hát v.v..Trung tá Nông - A - Pan, cựu Sĩ quan tùy viên Lào; về đêm thường kể chuyện: - Chưởng, Đường rừng, Ma quái, Chuyện dài xứ Ba Tư Nghìn Lẽ Một Đêm v.v.. lôi cuốn, hấp dẫn làm anh em say mê quên hết cả mệt nhọc trong ngày; anh em rất quí mến, thường gọi ông là: - Tiên Sinh Pan! Nay cũng đã trở nên người thiên cổ. Xin chia sẻ sự đau buồn và trân quí đến gia đình người quá cố! Đặc biệt những đêm dài mưa rơi gió rét, buồn man mác; nơi đây, cái lạnh và đói cuộn chung nhau làm một, gói thuốc lào lúc này là thần dược diệu kỳ, khói thuốc thả lượn bay bay và những dòng thơ ai oán như cứ luôn tuôn trào..
THÔI HẾT NHẠT NHÒA.
Ngoài trời gió thoảng mưa rơi Lòng anh xao xuyến buông lơi phím đàn Tiếng tơ nức nở vô vàn Gửi mây lướt gió ngỡ ngàng trao ai Em hởi em có nhớ anh không Có bao lần em đã chờ mong Ngày xưa trời nước mênh mong rộng Bây giờ chỉ biết có đợi trông Từng thu chết, đông về giá lạnh Đã mấy mùa, tím ngắt mặt trời đông Bao tháng ngày sống trong cảnh chim lồng Đường hoa môäng vẫn chờ bay trước gió Em có biết những đêm dài nơi đó Lửa lập lòe thuốc lịm tắt trên môi Dòng khói xanh, như khơi nhớ một thời Bao dĩ vãng dâng lên trào khóe mắt Nơi đây sương gió phủ đầy Vượt hằn gian khổ có ngày hoan ca Vườn Xuân sắp lại nở hoa Tình ta thôi hết nhạt nhòa từ nay .
Dần dần, cuộc sống tại trại Nam Hà B, cuối tuần vào ngày Chúa nhựt buổi sáng, tùy tình hình anh em ở bên ngoài lén nhập vào khu bên trong (nơi đây có 2 khu). Ban tổ chức quan sát tình hình lính gác và nghiên cứu cấp thời chọn phòng tương đối kín đáo, phổ biến cho nhau biết trước 5 – 10 phút – tập trung sinh hoạt và cẩn mật đề phòng chuyện bất trắc có thể xãy ra. Buổi sinh hoạt đầu tiên do Trung tá T (81 BCD) và Trung tá H (Phòng Quân Huấn B.TTM) phối hợp tổ chức một chương trình Văn nghệ bỏ túi đặc biệt giới thiệu: - Đây là: - Tao Đàn Tiếng Thơ Nhạc Tự Do Trong Ngục Tù CS, với những bản nhạc tù khúc nóng bỏng và những bài thơ say men trong niềm tin bất khuất, dù có phải xé gan bẻ cật vẫn phù cương thường. Tất cả anh em tham dự, đồng loạt vung cao cánh tay và hân hoan đón nhận những tràn pháo tay nồng nhiệt..
SAY
Rượu không uống, sao người mãi say Trời đất xoay quay bao đắng cay Ôi biệt ly, buồn dài thế kỷ Để nhớ về, tràn ngập chân mây Người chiến sĩ đi trong mưa gió Thân hải hồ khoác áo chinh y Mỗi lần đi mấy khi trở lại! Từng dọc ngang, khắp nẻo biên thùy Ba mươi năm chiến tranh máu lửa Biết bao lần bom đạn tên bay Nhưng không chết, trên hào trận tuyến Và vẫn sống trong lòng hôm nay Làm chiến sĩ sống đời oanh liệt Nợ tang bồng phải trả cho xong Thắng không làm vinh, bại không nhục Hận thù này, khắc cốt ghi lòng Rượu đâu uống sao người mãi say Ta say trong bốn bức tường dầy Khi buồn muốn la, vui lại khốc Lúc tỉnh khi say hỡi rượu cay!.
Buổi thơ nhạc trên làm nền tảng cho bước đi trong âm thầm qua bao sự khắc phục chịu đựng đè nén trong tâm khảm người tù; nay đánh thức tinh thần anh em, tạo cho mỗi người, biết đoàn kết thương yêu nhau hơn!. Khí thế càng hăng say, tình thần hưng phấn được sáng tạo một cách lạ lùng, ngay trong cái lồng sắt lúc nào cũng canh phòng gay gắt, phụ họa là thành phần ăng ten luôn bám sát gót chân tù. Nếu không cùng một lòng, chắc rằng lưới bạo tàn sẽ dập tắt! Những cùm, kẹp tha hồ chăm sóc kỷ đối anh em hết lòng .. Thơ nhạc nở rộ trong ngục tù, là những dịp rửa sạch tâm hồn người tù vì qúa tủi nhục, không một ai dám lên tiếng hoặc chống đối nhà tù; tiếng đàn, tiếng nhạc, tiếng thơ ngân vang trong những tụ điểm, những nơi kín đáo, những lúc nhàn rỗi làm xoáy động những tâm hồn đang chết lặng vì ngục tù CS dã man nhất thế kỷ!.
NGUYỆN CẦU
Trời hỡi trời! tôi quá đau khổ Mang thân tù chuốc lấy đọa đày Đường tôi đi vinh, nhục đôi ngã Hận biệt thù, lại thêm đắng cay Nhục nào hơn bằng nhục mất nước Vực nào sâu bằng vực tù đày Nắng vàng không ấm người mong đợi Ngẩng mặt nhìn trời chỉ thấy mây Nơi đây máu mắt đong thành đá Suối chảy rừng sâu gợi thêm sầu Nắng cháy da đầu, lòng vẫn lạnh Mùa đông giá lạnh, sốt đêm thâu Trời hỡi trời ông giờ ở đâu Bao nhiêu năm tháng tôi nguyện cầu Cho ViệtNam không còn đau khổ Cho nươc nhà sớm hết Cọng nô !
Suốt ngày lao động cực nhọc, chiều tối cơm nước không đủ cung cấp nhiệt lượng; đêm về, bao nhiêu hoài vọng thương nhớ không sao nhắm mắt, và cứ mơ tưởng về Sàigòn!.
Đêm đêm mơ thấy Sàigon, Đèn xanh đèn đỏ có còn đâu em ?!.
Giấc mộng ray rứt làm tâm hồn lâng lâng bồn chồn, nôn nao và trông đợi. Giấc mộng chỉ mơ được thấy Sàigòn.. Gió ù thổi thêm lạnh, tâm hồn như u uất, vang vọng trong lòng não nuột cả khung trời ly biệt! Ngoài trời mưa vẫn cứ rơi..
CHO TÔI SỐNG LẠI MỘT NGÀY
Nghe mưa rơi, lòng ta nức nở suốt canh dài Nghe gió thổi, sầu thêm cô quạnh Đã mấy mùa ?! Mấy mùa đông giá lạnh Khung trời vắng lặng bóng trăng sao Ôi biệt ly buồn lắm thương đau Ai cách ngăn ?! tình yêu chan chứa Ai đã xé nát con tim đôi đứa Nhưng vẫn nhớ mãi trong lòng Nhớ em như nhớ dòng sông Thương em như thương dòng suối mát Cung đàn tiếng thơ ta hát Cho tượng đá mắt cũng lệ nhòa Nơi đây không có mùa xuân nắng đẹp hiền hòa Nhưng vẫn nhớ, ngày nắng ấm lam chiều khói tỏa nhẹ Em đi từng bước lòng vẫn thấy lẹ Chờ trăng lên nao nức không quên đời Hỡi ôi! Ngày ấy đã xa rồi Và từ nay, ngày không ngày, trời đất như cuồn quay sụp đổ Ôi quê hương! Ôi tình yêu tan vỡ Trong tối tăm, cho tôi sống lại một ngày.
Kể từ nay lúc lên núi xuống đồi, khi có dịp quay quần bên nhau, bạn Nguyễn văn Thái khóa 15 ĐàLạt với cây đàn Guitare vừa được gia đình gửi đến, anh ray rức lay động qua lời thơ mộc mạc hiền hòa và anh phổ thơ ngay bản nhạc Cho tôi sống lại một ngày.. Cả đội Rau Xanh như thêm sức sống mới và càng hy vọng hướng về tương lai và làm cho đội Mộc và Rèn nằm gối đầu bên cạnh, cùng vui hưởng những giây phút rung cảm, khi nghe bạn Thái cất tiếng hát nảo nề, ai oán trong những đêm mưa gió sụt sùi.Tiếng hát như gào thét giữa đêm trường; lúc trầm, bổng, dồn dập bềnh bồng như xua cái đen tối thân phận tù đày rồi sẽ qua mau.
***
Tù chuyển về Nam
Cuối tháng 12/1980 toàn Trại Nam Hà B có khoảng 2000 người chuyển về Nam, 5 năm đày đọa và hãm hại thê thảm tại các trại tù miền Bắc; CSï vắt hết mồ hôi, nước mắt, và xương máu tù nhân, nay chỉ còn bộ xương khô lê lết trên đường về là cả một trời tím ngắt!..
Xuôi Nam
Đường trở về thoáng hiện quê hương Niềm thương man mác sao khác thường Bao năm xa cách càng uất hận Ai thấu lòng ta có biết chăng?! Vẫn trăng đó vẫn khung trời xanh Một nửa hồn đau tím cả lòng! Ai tri ky û?! Ai người phản bội?! Mang đất nước nầy đến thương vong! Hà Nội ơi! Bao năm chìm đắm trong bức màn sắt Hà nội không tiến, lịch sử vẫn không ngừng Há nội dừng lại, dân chẳng đặng đừng Màn đen che khuất, cơn ác mộng hãi hùng! Sàigòn ơi! Ngày sóng đỏ, ngập đầy cánh đồng xanh Đã gây bao thê lương tang tóc Miền Nam kinh hoàng, trong máu lửa loài quỉ đỏ Quỉ đỏ!! Quỉ đỏ!! Mi là quân thù, Ta thề quyết không đội trời chung! Mi nói Tự Do Dân chẳng thấy no Hô hào Dân chủ Đặc quyền quan to Dân làm như phu Chẳng khác thân tù Lãnh tụ gian ác Nhốt cả thầy tu! Để rồi, bao hưng vong của đất nước, Đâu còn tiếng chuông Giáo Đường, thức tỉnh mi, đang gay nhiều tội ác!. Hỡi hồn thiêng núi sông nước Việt Hỡi anh linh phảng phất đâu đây Hỡi những người lâm cảnh tù đày Hãy cùng nhau, dựng lại quê hương mình!.
Trại Z 30D vừa đón nhận 2000 tù từ Trại Nam Hà B như nói trên; sau 2 ngày phân tán còn lại 120 tù chuyển về Trai C, vừa đến nơi các bạn tù Vĩnh Phú về trước1 tuần, thông báo sẽ có kiểm tra. Một tập Sớ Táo Quân được các bạn bè cất giấu dùm thoát được cảnh lục soát; ngay tối ngày 23 tháng 12 âm lịch năm 1980, chúng tôi lại có cơ hội thực hiện một buổi sinh hoạt tại buồng ở khá nhộn nhịp và tuần tự kể hết những tội ác của Trại như: - Đàn áp tù, đánh đập, trù dập, bỏ đói khát, đau ốm bệnh tật v.v.. trình tâu hết lên Ngọc Hoàng Thượng Đế ?! - Chỉ còn 7 ngày nửa là đón giao thừa Tết Tân Dậu năm 1981, các trại tù miền Bắc lần lượt chuyển về Nam không hẹn mà gặp anh em tù trong Nam; sau ngày quê hương bị thống trị bởi CS, tù trong Nam hầu hết là giới trẻ, sinh viên học sinh, công tư chức và các bô lão có tiền của bọn CS gọi là Tư sản mại bản v.v.. Người người đều cảm nhận thiếu mấtTự Do, thiếu mất điều gì mà từ trước họ được sống nay không còn nữa!. Tù biệt xứ nay trở về gặp lại đủ các thành phần trong xã hội cũ, mang cùng tâm trạng thương đau, vô bờ bến!. -“Cảnh chim lồng cá chậu biết thuở nào ra”?! Trại C đang nhốt khoảng 1800 tù nhân, lợi dụng thời gian và không gian lễ hội Tết sắp đến, anh em quyết liệt kết nối nhau trong âm thầm quyết liệt. Theo chương trình ngày mùng 1 Tết, khu A, B, C đề cử anh em thăm viếng lẫn nhau và chúc Tết vào buổi sáng. Ánh sáng ban mai lung linh nhảy múa tràn vào từng dãy buồng tù đang trú ngụ như an ủi và cùng chia sẻ sự vui mừng qua những lời chúc tụng nhau: - Mau sớm có ngày trở về. - Đả đảo chính sách hà khắc đối với tù chính trị. - Hẹn ngày gặp nhau tại.. (Một số tin tức khả tín, Bà Khúc Minh Thư đang vận động Mỹ thu nhận tù.) Qua mùng 2 Tết, đúng giờ G khoảng 3 PM, khu A dàn cảnh bày tiệc trà cùng nhau vui Tết để có dịp đánh 4 tên trật tự và ăng ten, kết quả biến động lan truyền nhanh khắp khu B, C toàn trại. Ban chỉ huy Trại báo động, lập tức điều động công an trấn áp tù khu A để giải cứu mấy tên tay sai. Trong khi công an vào đàn áp tù, không may anh Tân vì quá hăng say đánh lũ người nối giáo giặc chưa thoát khỏi vòng ẩu đả, công an ào tới bắt gặp anh Tân đang dùng cây đánh những tên gian ác phản bội. Anh Tân bị công an vay bắt và đánh túi bụi vào mặt mày thân xác máu me đầy người, chúng bắt anh Tân bỏ vào bao bố kéo ra khỏi trại đánh hội đồng liên tu bất tận! Hiện trường lúc này khá sôi động, khu A, B, C đều ra khỏi nhà đồng hô to: - Không được đánh tù chính trị. - Yêu cầu trả anh Tân về Trại. - Tất cả 3 khu, tù nhân đồng la, thét, vang dậy một góc trời. Tin tức truyền tải từ khu A, qua B, rồi đến C; nối nhau như cơn bão trong lòng nhịp nhàng và không bao giờ muốn dứt!. Không khí sôi động, tiếng la, tiếng thét toàn trại hơn 1800 con người cùng một lúc trong rừng sâu tăm tối, trong ngục tù CS, chưa bao giờ xảy ra …….. nay các bạn tù đồng đứng dậy nói lên một ý chí sắt đá, một tinh thần bất khuất , kiên cường và không bao giờ chịu khuất phục! Mỗi khắc, giờ trôi qua, sự biến động có thể xảy ra những biến cố hệ trọng hơn; Công an tăng cường càng lúc càng đông, súng ống sẵn sàng chĩa vào lưng tù, chúng áp đảo tù khu A, rồi lần lượt khu B vào nhà khóa chặt cửa. Nay chỉ còn khu C bên ngoài khoảng 400 người, nhất quyết lấy hàng rào chắn ngang giữa khung B và C, làm điểm tựa vừa kín đáo che khuất, vừa che chở nhau. Mặt trời buông dần xuống, anh em vẫn hiên ngang tiếp tục cuộc đấu tranh và hô to các khẩu hiệu : - Không được đánh tù chính trị. - Không đánh đập anh Tân. - Phải thả anh Tân trở về trại. - Đừng nghe những gì CS nói, hãy nhìn những gì CS làm. - Nơi nào có đàn áp, nơi đó có nỗi dậy.(Karl – Marx) - Đả đảo CS– Đồng loạt vỗ tay và liên tục hát bài ca ViệtNam – ViệtNam. Cuộc đấu tranh hôm nay, quả thật “Cá nằm trên thớt ”, dù có vùng vẫy rồi cũng bị sức mẻ gãy gọng; sau 3 ngày thức trắng đêm hao mòn biết bao tâm huyết để rồi Ban Quản Lý trại, biệt tách hơn 52 chiến sĩ nhiệt tình, không khiếp sợ nhận lấy đau thương, chuyển hết về Chí Hòa rồi đày ải vào đội Trừng giới thuộc tỉnh Phú Khánh. Sau này theo tin tức được biết Thiếu tá Lê Danh Chấp gục ngã trong những ngày trừng phạt tại Trại Xuân Phước. Chúng tôi quá xúc động vì mất một người bạn kiên cường anh dũng bất chấp sự trả thù tàn bạo của CS. Thiếu tá Chấp chết đi đã để lại cho các bạn tù trại Z 30D một niềm thương tiếc vô cùng xót xa, anh vừa can trường vừa hăng say luôn kích động mọi người cùng đứng dậy hô to các khẩu hiệu suốt đêm và đến cả ngày hôm sau mùng ba Tết, anh là người hùng trong đêm nỗi dậy cho đến bây giờ anh em vẫn thương nhớ và biết ơn anh.
Rừng lá Nỗi Dậy
Rừng Lá, Tiếng thét đêm nay nghe dễ sợ Tiếng rú đêm nay nghe rợn người Rừng Lá âm u, đây Rừng Lá! Bừng dậy đêm nay trời sáng sao!. Rừng Lá, Đêm nay ta gào! Đêm nay ta thét LàoKay – YênBái – SơnLa, HàNamNinh – VĩnhPhú – PhongQuang!. Nghĩa địa vùi xác tù vội vả! Z 30D nghiệt ngã trăm bề gớm ghê! Rừng Lá, Tiếng rú đêm nay nghe dễ sợï Tiếng thét đêm nay quá kinh hoàng Rừng Lá âm u, đây Rừng Lá! Bừng dậy đêm nay trời xót xa!. Rừng Lá, Đêm nay ta hát cho nhau nghe Bài ca uất nghẹn Bài ca hận thù máu chảy Và nhửng bài ca trong ngục tối! Đêm ngục tù không chăn không chiếu Chân xích xiềng buốt giá đêm thâu Xích xiềng nào xé nát tim ta?! Lửa hận thù bốc cao bùng cháy!. Quân cộng thù phá nát quê hương Bao năm dài bóp chết dân đen Vì Tự Do ta tìm cuộc sống Vì Tự Do ta phá bỏ chim lồng!. Ôi Việt Nam trại tù khắp nẻo Rừng Việt Bắc lắm anh hùng bỏ thây Ôi từng cây! Sốt rét rừng xô ngã Da bọc xương khiếp cảnh lưu đày! Đêm nay ta hát cho nhau nghe Bài ca uất nghẹn, khiếp cảnh lưu đày.!
Sau ngày nỗi dậy, Ban Chỉ Huy Trại càng khép chặt cổng tù, càng theo dõi gắt gao từng hành động tù nhân. Sau 2 tháng, một buổi sáng toàn trại tập trung nhận lệnh đi lao động. Đột nhiên Ban Chỉ Huy Trại gọi tôi ra trước sân tập họp và đọc Lệnh phạt với lời lẽ : Chây lười lao động. Ngay lập tức hai tên trật tự áp giải tôi về phòng kiên giam, theo sau có 2 tên võ trang cầm súng. Vừa vào phòng giam, có sẵn tấm váng bề rộng khoảng 6 tấc, bề dài vừa đủ chiều cao tầm người; tấm váng kê cao bởi 2 con ngựa cách mặt đất khoảng 1 thước, người tù bắt nằm dài, thẳng 2 chân xỏ vào 2 còng sắt tròn vừa sát cùm chân; treo tòn teng bởi cây sắt nằm ngang có 2 trụ cột gắn chặt chôn sâu dưới đất. Thế là suốt ngày đêm 2 còng sắt dính sát 2 mắt cá cổ chân, khi ăn uống, tiểu tiện, đại tiện đều nằm ngồi tại chỗ.
Tiếng gào giữa đêm khuya
Làm sao sống lại ngày mai Làm sao quên hết những đêm dài Âm u một cõi lòng nức nở Trắng tay gối đầu sầu khôn nguôi! Đêm nay một mình, một phản, đôi cùm sắt Lưng mỏi loai hoay sột soạt hoài Tiếng còng khua động ác đêm lạnh! Oan trái nợ đời dễ ai quên ?! Phòng giam khóa chặt đầy bóng tối Hiu hắt bao thu lạnh tứ bề Rằng đây có phải là địa ngục ?! Ta gào! Ta thét ! giữa đêm khuya!. Tiếng gào còn vang mãi trong sa mạc Tiếng thét căm hờn vọng lại từ xa Bao nhiêu năm lưu đày khốn khổ Bấy nhiêu năm bít lối đường về . Giờ đây lại nằm chân co chân duỗi Thôi thúc thân tù hành hạ đắng cay Dù phải hy sinh nơi cửa ngục nầy! Vẫn bền chí quyết một lòng bất khuất . Vẫn tin tưởng có ngày xán lạn Đập gông cùm phá xiềng xích dã man Diệt hung nô thời đại bạo tàn Làm sạch cỏ nhổ từng tên đầu sỏ . Ta sẽ về, ta sẽ trở về Vượt Mây Tào núi dài rừng sâu Biển Hàm Tân cát bay rát mặt Thoát nơi này ra hẳn tối tăm . Làm sao biết được ngày mai Làm sao biết được đường dài Sông kia có khúc người có lúc Dòng đời thay đổi dễ ai hay . Làm sao giết được ngày mai ?! Làm sao quên hết những đêm dài! Đã mấy mùa rung trống xông trận! Chờ ngày phục hận sẽ ra tay.
Sau một tháng cùm siết chặt 2 cổ chân, tôi được thả ra, đi đứng không vững, tất cả trời đất như quay cuồn rồi ngã gục trên đường về trại. Từ Bắc trở lại Nam còn bộ xương khô, nay chỉ tội: Chây lười lao động mà cùm 2 chân không cử động nổi. Thật đáng thương cho số phận làm tù!.. Thuở xưa, giữa hai nước có chiến tranh, sau khi chấm dứt kẻ thắng đối xử người tù vẫn coi quí trọng thân thể họ, xem kẻ thù như tình đồng loại; cho ăn uống đầy đủ, đau ốm có thuốc men điều trị, ngày thả ra còn may cho cả áo quần v.v.. Nay CSViệt Nam đã đánh mất hết bản tính con người thuần túy Việt Nam, cùng Chung một Giống nòi; họ không còn nghĩ đến Tình Huynh Đệ, Nghĩa Đồng Bào; rồi mặc tình đày đọa hằng triệu người miền Nam tại các trại tù, lâu dài 5,10,15,17 năm trời lao đao, lận đận, tả tơi đến khốn cùng!.. Giết dần 20 triệu mầm sống của nửa Dân Tộc tại miền Nam! Vì vậy cho đến ngày nay sau 31 - 32 năm cưởng chiếm miền Nam; CSViệt Nam chỉ có ha hê say men trên chiến thắng, chỉ biết vơ vét đầy túi tham; tham ô, tham nhũng lấy của cải tài sản của dân cùng âm mưu ăn cắp đục khoét của công làm của hương hỏa cho đời sống riêng tư tăm tối của chúng. Sau thời gian dài, chẳng xây dựng được gì cho đất nước, chỉ là con số không! Dân tộc ViệtNam ngày nay hơn 80 triệu người đang quằn quại sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo đói dốt nát.. Sau bao nhiêu năm dài trọn quyền cai trị, thế mà nước Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới?! Tại sao?! Vì CS Vietnam cướp hết quyền Tự do, Dân chủ, v. v.. Để rồi độc quyền cai trị! Từ đó không có tiếng nói khác, không có đảng phái đối lập góp chính kiến xây dựng xã hội, vậy biết bao giờ Nước Việt Nam mới tiến bước kịp các nước bạn trên thế giới ?!
Tôi đã có ở tại trại cải tạo Phong Quang, Lào Cai trước khi Trung Cộng đánh các tỉnh biên giới phía bắc và chiếm Ải Nam Quan. Thời gian ở trại Phong Quang thật là ở trong một địa ngục kinh hoàng vì đói rét, bệnh tật, lao động khổ sai, và phải đối diện với lòng hận thù của bọn công an vô cùng dã man và thâm độc. Vì vậy có một số anh em vì không chịu đựng nổi đã bỏ mình nơi đây.
Vậy nếu em cần biết tin tức của thân phụ thì cứ post tên tuổi, cấp bậc và khoảng thời gian thân phụ em qua đời, hy vọng chúng tôi có thể giúp em tìm thấy một vài đầu mối hữu ích.
Cầu mong linh hồn của ông linh thiêng, hộ trì cho em tìm thấy được nắm xương tàn gởi gắm nơi hoang lạnh.
Tôi Huy Vân xin thông báo cho cháu Tài Nguyễn rõ: Ở tù chuyển qua nhiểu trại từ Nam ra Bắc, nhưng chú không ở Phong Quang. Theo hiểu biết của Chú, cháu tìm Bố chết trong tù, nơi đây diễn đàn này cũng để những người thất lạc hoặc chết trong tù có cơ hội loan tin và tìm kiếm - Vậy cháu cứ show đủ tên họ, cấp bật sau cùng của bố cháu - tiếp tục ghi lên diễn đàn - may ra sẽ có người hiểu biết và họ sẽ tin cho cháu. Chúc cháu và gia đình sớm được tin bố cháu. Chúc nhiều may mắn.
Riêng cháu nếu có thể cần liên hệ hoặc cần gì chú - Chú sẽ sẵn sàng giúp cháu.
Ðọc bài viết của anh Huy Vân... Dù thời gian khốn khổ cùng cực đã qua khá lâu, nhưng trước mắt tôi vẫn thấy cảnh đi thăm nuôi như hiển hiện ra trước mắt... vẫn làm lòng mình xúc động bồi hồi... Anh diễn tả thật sâu sắc và thơ làm thật hay.
Chân thành cảm ơn anh Huy Vân đã nhắc lại sự thật về những ngày ngục tù đau thương trên chính quê hương của chúng ta. Tất cả những chế độ chính trị chuyên chính độc tài, và những chủ nghĩa ngoại lai đều tìm cách đầy đọa và tiêu diệt dân tộc mình; bỡi vì nó không xuất phát từ lòng dân tộc, nó không do tổ tiên của nòi giống Việt truyền lại, mà nó do những tên mắt xanh tóc vàng như Marx, Engel, Lenin... hoặc những tên bá quyền nòi Hán như Mao Trạch Ðông tạo dựng nên và bú mớm để thỏa mãn mộng bá vương thế giới dưới cái danh xưng mỹ miều gọi là Quốc tế Cộng sản, gọi là "Vô sản các nước đoàn kết lại" v.v... để treo cờ búa liềm và trưng bày hình tượng Marx-Lenin-Mao trên khắp cùng thế giới. Thay vì thờ tổ tiên, thờ cha kính mẹ thì lại thờ phượng "ba vị thánh Mác-Lê-Mao", và đưa bọn thực dân đỏ lên cao hơn cả cha mẹ mình như đã từng được nhà thơ bồi bút Tố Hữu ê a như sau:
"Xít-ta-lin ơi hỡi Xít-ta-lin! Thương cha thương một, thương ông thương mười!"
Thiệt là đáng xấu hổ cho bọn mang voi về giày mả tổ mà vẫn cứ bô bô miệng tự xưng mình là "cách mạng"!
Cũng vậy, khi sống trên đất Mỹ này mà nhìn thấy những kẻ nịnh bợ Mỹ, thiết nghĩ bản chất của họ cũng chẳng khác gì bản chất của bọn cộng sản bợ đỡ Nga Tàu, cứ ôm hôn chùn chụt "đồng chí anh em bóc lột" mà không biết xấu hổ! Ngày hôm nay mà chúng ta phải lưu vong như thế này thì cho cùng cũng do Mỹ cấu kết với Cộng sản mà nên cớ sự.
Nếu quý vị và các bạn muốn đóng góp, lưu lại nhật ký, xin vui lòng làm theo trình tự sau đây:
1- Copy từng đoạn bài mà quý vị đã đánh máy bằng tiếng Việt từ các word processors hoặc các text editors như Microsoft Word, Notepad, wordpad v.v….Xin lưu ý là số chữ một lần đưa vào diễn đàn có giới hạn nhất định cho nên nếu bài dài quá thì sẽ bị tự động loại bớt những phần sau, vì vậy quý vị phải đưa vào nhiều lần, mỗi lần một đoạn cỡ 4-5 trang mà thôi.
2- Click vào chữ Post a Comment hoặc chữ reply, một bảng chuyển tải trực tuyến sẽ hiện ra, xin quý vị và các bạn điền vào phần Name (dùng bút hiệu hoặc biệt danh là tốt nhất) và email của mình.
3- Sau đó quý vị và các bạn click mouse phải vào bảng đánh máy phía dưới (trong trường hợp này là bảng chuyển tải vì quý vị không cần phải đánh máy nữa) và Paste toàn bộ nội dung mà quý vị đã copy lúc nãy vào bảng này. Click vào chữ submit một lần mà thôi, lập tức nội dung này được chuyển tải và xuất hiện ngay trên diễn đàn.
Quý vị cũng có thể đánh máy trực tiếp vào bảng đánh máy ở trên (trong trường hợp này là bảng đánh máy và chuyển tải) rồi sau đó click vào submit để chuyển tải vào diễn đàn.
Nếu quý vị không cài đặt (install) nhu liệu font (mẫu chữ) tiếng Việt vào máy của mình, xin vui lòng vào địa chỉ sau đây để xử dụng bàn đánh máy mViet ZEN 90 trực tuyến (online): http://www.erct.com/8-WebMaster/mviet/index.html Theo hướng dẫn mà đánh máy trực tiếp vào khung đánh máy của mViet ZEN 90. Xin lưu ý các dấu thông thường trên keyboard được đánh ngay sau mỗi chữ như sau: Số (1) tức là dấu sắc, số (2) tức là dấu huyền, số (3) tức là dấu hỏi, số (4) tức là dấu ngã, số (7) tức là dấu móc của chữ ơ và ư, số (6) tức là dấu mũ của chữ ô và ê, số (8) tức là dấu liềm của chữ ă, và dấu (.) tức là dấu nặng. Riêng chữ đ thì đánh (d9) tức là chữ đ.
Sau khi đánh máy xong thì click vào mouse phải trong khi đặt mouse trên bất cứ chỗ nào trong khung bảng đánh máy, một bảng nhỏ hiện ra có chữ select all trong đó, click select all với mouse trái và bảng nhỏ này biến mất ngay, đừng di chuyển mouse, ngay lập tức click mouse phải một lần nữa, một bảng nhỏ khác xuất hiện có chữ copy trong đó, click copy với mouse trái để copy toàn bộ nội dung vừa đánh máy. Sau đó tiếp tục làm theo bước 2 và 3 ở trên để chuyển tải trực tiếp vào diễn đàn. Nếu quý vị chưa quen thì cứ tự nhiên tập thử cho vui, đừng ngại, những nội dung không hoàn chỉnh hoặc có khuyết điểm ngoài ý muốn của quý vị sau đó sẽ được xóa bỏ khỏi diễn đàn của chúng ta. Mọi thắc mắc về kỹ thuật xin email cho chúng tôi tại aihuuninhthuan@aol.com hoặc aihuuninhthuan@yahoo.com
Comment on «NHẮN TIN» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Thưa Quý Đồng Hương Thân Hữu Ninh Thuận,
Tôi mới vừa nhận được tin anh NGUYỄN THÀNH TRỢ, vợ là chị Phan Thị Đại, cựu giáo viên PhanRang Ninh Thuận. Anh Trợ bị bệnh ung thư đến thời kỳ thứ ba, quá nặng, và sắp từ trần. Anh Nguyễn Thành Trợ ở tù 20 năm, từ năm 1976 đến 1996 (trong vụ tham gia Đảng Phục Quốc). Chúng ta, với tinh thần Đồng Hương Thân Hữu Ninh Thuận xin cùng chia xẻ nỗi khó khăn cuả gia đình anh Trợ, chị Đại trong lúc này (tuỳ hỷ). Nếu có hảo ý giúp đỡ, chi phiếu xin gởi về chị Đoàn thị Thanh (vợ anh Trần văn Tiềm)
Đoàn thị Thanh
11067 Camellia Ave.
Fountaind Valey, CA. 92708
Chị Thanh sẽ gom góp lại để gởi về cho chị Phan Thị Đại.
Xin thành thật tri ơn Quý Đồng Hương.
Thân kính,
Nguyễn Thị Cúc
*************************************************
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
tặng bạn bè
tặng những cánh chim viễn xứ
tặng những người đã nằm xuống
tặng những linh hồn vất vưởng
trên hành trình biển đông
suốt đời kiếm tìm hai chữ Tự Do...!
Anh gởi cho em những vần thơ máu lệ
Bao mùa xuân nối tiếp với mùa đông
Ở bên kia bờ đại dương thăm thẳm
Ôi quê hương nỗi nhớ muôn trùng!
Anh gởi cho em những đoạn trường tha phương
Lời ru mẹ cõi êm đềm dĩ vãng
Quê hương là chất dịu hiền mật ngọt
Bỗng một lần cay đắng quá nghe em!
Anh gởi cho em bờ sóng vỗ êm đềm
Mây viễn xứ muốn bay về cố xứ
Ðời phiêu giạt những đêm dài mộng mị
Vẫn âm thầm khẽ gọi tiếng quê hương!
Anh gởi cho em một kiếp sống vô thường
Thân luân lạc sẽ trở về cát bụi
Dòng hải lưu mang ta ra biển lớn
Trả ta về với đất mẹ yêu thương!
Lê Tự Do
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Nguyễn thi Cuc.
Bầu trời mùa thu SanJose se lạnh…..Ra đường phải choàng cái áo len mỏng, có lúc cũng hơi rùng mình thấm lạnh. Cái lạnh ở ngoài trời và cái lạnh ở trong lòng làm mình cảm thấy hơi tê tái……Và trong nỗi buồn da diết khi nghĩ về cuộc sống không suông sẻ của một kiếp người tôi cảm thấy đời người sao khổ ải quá, và thoắt chừng như bóng câu qua cửa sổ , thấy đó rồi mất đó. Có rồi lại không……Dù biết việc gì đến sẽ đến , không ai qua khỏi : sinh, lão, bệnh, tử, nhưng tôi vẫn bàng hoàng khi nghe tin ông Ngô khắc Tỉnh, nguyên là một Tổng Trưởng của Bộ Văn Hoá Giáo Duc Việt Nam Cộng Hòa vừa mới từ trần. Ông tho 82 tuổi.
Nếu có ai gặp qua ông ít nhất là một lần vẫn không quên được dáng người tầm thước, đẹp người, ăn nói dịu dàng hòa nhã với một kiến thức sâu rộng làm thu hút người đối diện, cho ta một cảm giác kính trọng và gần gũi trong tư cách tiếp chuyện của ông. Ông đậu Tiến sĩ Dược khoa tại Đại học Toulouse ở Pháp quốc. Thời Đệ nhất Cộng Hòa ông làm Dân biểu Quốc hội. Thơì Đệ nhị Cộng Hòa ông làm Tổng trưởng Thông Tin Báo chí rồi Tổng Trưởng Văn Hóa Giáo Dục cho đến ngày mất nước.
Về cuối đời ông không được may mắn như những người khác. Vận nước đổi thay, ông đã ngồi tù hơn 13 năm ròng rã. Qua Mỹ theo diện ODP ông được đoàn tụ với gia đình trong tuổi già bóng xế . Cùng đi với anh chi Nguyẽn Viết Kinh, tôi hân hạnh được gặp lại ông tại tư thất của ông ở SanJose. Vẫn khuôn mặt hiền hậu thông thái , vẫn lối nói chuyện dịu dàng từ tốn , với những kiến thức và kinh nghiệm bao quát về đủ mọi chuyện đã làm tôi say sưa theo dõi và mở rộng tầm mắt mình khi nhìn về mọi khía cạnh của cuộc sống chung quanh, nhất là khi nói về quê hương Ninh Thuận, ông hỏi tôi đủ chuyện và cùng nhắc lại nơi nọ chốn kia mà bùi ngùi….Đã mười năm rồi mà tôi vẫn nhớ hoài về lần thăm viếng đó. Là một nhà giáo của thời ông làm Tổng trưởng, tôi luôn trân trọng và kính mến ông, và chúng ta cũng hãnh diện về quê hương Ninh Thuận, ông là một trong những người lãnh đạo mẫn cán của Quốc gia.
Trong những ngày cuối đời, tuổi già rồi bệnh tật và nằm một chỗ, tôi nghĩ ông đã chiêm nghiệm được cuộc đời, sự trầm luân của kiếp người và của nhân tình thế thái và tôi nghĩ đã là khi xa xứ, nhất là gần cuối đời, ai lại không nhớ và thả hồn về chốn xưa, nơi mở mắt chào đời, nơi chôn nhau cắt rún, nơi có những kỷ niệm khó quên của thời niên thiếu, ai lại không mơ ước có ngày mình về lại quê cũ, để nhìn để ngắm lại những con đường, những hàng cây, có chiếc cầu bắc ngang dòng sông bên lở bên bồi, những vườn cây ăn trái trĩu cành của thời tuổi dại mà bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm xưa……để thấy lòng mình rung động và thương cảm dạt dào.
Tôi còn nhớ ngày thân mẫu anh Hoàng đức Châu qua đời, linh cửu quàng tại nghĩa trang Oak Hill, bà con Ninh Thuận tha hương cùng tụ tập để thăm viếng. Ông công dân số 1 của Quốc gia nhìn bà con mình cười và nói rằng : Chúng ta thế nào rồi cũng sẽ về Ninh Thuận bắt cá Chốt của Đầm Vua nấu canh chua ăn bà con nhé ! Nghe Tổng Thống nói như thế tôi xúc động quá, vội quay đi để dấu đôi dòng lệ đang trào ra khoé mắt.
Ở Ninh Thuận của mình, Đầm Vua nằm gần ở Khánh Tường ( vào thời xa xưa, đầm này là của vua Chiêm Thành ) . Từ Tri Thủy, quê của Tổng Thống đi xuống khoảng hai cây số, nơi đó có cá chốt nổi tiếng nấu canh chua ăn rất ngon . Đó là thời trước, bây giờ Đầm Vua đâu còn nữa , họ đã san bằng để làm ruộng muối mà Tổng Thống đâu có biết, ông cứ nghĩ Đầm Vua vẫn còn như thuở thiếu thời ông thường thấy ở quê nhà. Bà con mình có thấy không, một ước vọng thật tầm thường , thật nhỏ nhoi vẫn ấp ủ trong lòng mà Tổng Thống vẫn chưa thực hiện được thì ông đã qua đời. Mỗi lần nghĩ về quê hương của mình, nhớ đến lời nói của Tổng Thống tôi cảm thấy thương ông vô hạn. Bà con mình có thấy không, dù đã từng là Tổng Thống, mà trong tâm tư ông, lúc nào cũng nhớ về quê hương yêu dấu, nơi ông đã sống với biết bao kỷ niệm khó quên của thời thơ ấu , mà khi gặp lại những đồng hương ông đã thốt thành lời. Và trong mỗi người chúng ta, tôi nghĩ ai cũng đều như thế cả.
Nói về quê hương của Ninh Thuận, cứ nhắm mắt mà tưởng nhớ về Phan Rang xưa, ai mà không biết tiệm thuốc tây to lớn đầu tiên mang bảng hiệu Ngô khắc Tỉnh là nơi thị tứ, nằm ngay góc giữa đường Thống Nhất và Ngô Quyền, cùng trước mặt chợ PR và bến xe khi thành phố trên đà phát triển. Hầu như tên ông được nhắc đến trên môi của mọi người dân khi đau bệnh đi mua thuốc hoặc nơi hẹn gặp nhau. Hỏi ở đâu ? Ở trước tiệm thuốc tây Ngô khắc Tỉnh . Là xong ngay.
Giờ đây ông đang nằm đó, mắt khép lại, khuôn mặt bình thản vô cùng, bỏ lại hết những danh lợi cao sang cũng như những khốn khổ cùng cực của kiếp tù hành hạ. Nhìn khung hình ông, vẫn nụ cười hiền hòa phúc hậu như thuở nào……Thắp nén hương….tôi cảm thấy nước mắt trào….
Chúng tôi, những Đồng hương thân hữu của ông, gởi đến ông tràng hoa lan tím “ Vô Cùng Thương Tiếc “ cùng những lời phân ưu trên báo. Chúng tôi nhìn ông lần cuối và xin vĩnh biệt ông. Tang quyến ông sẽ thiêu thân xác ông và rải xuống biển….. Có thể cuồng lưu của bờ Tây Thái Bình Dương sẽ đưa tro cốt ông về bờ Đông Thái Bình Dương. Biết đâu trong từng hạt bụi ấy sẽ trôi về quê hương Ninh Thuận…. tìm lại nơi mở mắt chào đời……
Cuộc đời vốn dĩ vô thường, cát bụi cũng sẽ trở về với cát bụi mà thôi……Nhắm mắt xuôi tay, là buông tất cả, cả những sung sướng lẫn những nỗi đau khổ nhục nhằn..
Chúng tôi cùng Cầu nguyện linh hồn ông mãi mãi được an vui nơi cõi Vĩnh Hằng.
San Jose 19 tháng 11 năm 2005.
Nguyễn thị Cúc.
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người
Irene Liu
(Lang Vườn trích dịch)
Nguồn: bgkq.net
Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-tế săn sóc.
Chỉ cần một ống tiêm thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may, là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke). Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng, nhưng có thể mang đến những kết quả cũng không kém lạ lùng và hữu hiệu. Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời. Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó, quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.
Cô Irene Liu kể chuyện: “Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì ông là nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não. Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước. Khi tai biến mạch máu não xảy ra, tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.”
Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đứng cuống quít. Điều quan trọng nhất là ĐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN,bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu”. Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.
1- Trước hết, chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa (bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly (milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lổ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.
7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại.
Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện. Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bị vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.
Cô Liu nói tiếp: “Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Đông y tên Hà Bảo Định (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa. Vì thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại Đai học Fung-Gaap tại Đài Trung. Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một giáo sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói ‘Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não’. Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não. Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Đại học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu. Sau vài phút, mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra. Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra. Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường. Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy Hoa gần đó. Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc.
Sau đó, mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó. Trái lại, các nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện. Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.”
Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt đời. Đó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đỡ những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.
Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.
Lang Vườn
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Dòng thời gian chảy đá mòn sông núi lở.
Xa cách rồi lòng ta vẫn nhớ nhung.
Hồ Zếnh.
Nhớ thương nước Việt-Nam buồn.
Nhớ thương Ninh-Thuận cố hương xa rồi.
Nhớ ngày cạn chén ly bôi.
Là từ ngày ấy tôi rời Phanrang.
Đến nay mấy độ thu tàn.
Đến nay mấy độ xuân sang, hè về.
Bụi đường cách trở sơn khê.
Phanrang giờ ánh trăng thề còn không?
Nhớ thương đoài đoạn tấc lòng!
Phanrang yêu dấu vẫn mong ngày về.
Phanrang có ánh trăng mơ.
Phanrang là một trời thơ hữu tình.
Dù cho sóng gió điêu linh,
Phanrang tôi mãi bình minh tuyệt vời.
Ngọc Nhân. Washington 10/19/06.
Nếu Chị rảnh ghé qua www.NinhThuanHome.com góp cho em vài bài nha chị. Chân thành cảm ơn chị.
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Anh phải làm gì? Phải ở đâu
Mà nay đất Mỹ, giữa trời mầu!
Con đường xuyên Việt dài thăm thẳm,
Mà tình người, thê thảm nước sâu?!
Anh phải đợi chờ, phải bước đi?!
Tâm can thiền luận mối sầu bi;
Bao giờ, cơn loạn theo thời thế?!
Thái cực quyền, anh tập được gì?!
Phải viết bài Thần Thoại, mối thơ,
Mùa thu đất Mỹ, lá bay mờ...
Mịt mờ tâm khảm, vàng pha đỏ;
Ở cuối đường, mưa gió, thảm chưa?!
Cúi lạy dung nhan Thần Nữ Đứng,
Tự do này,ra biển phiá Tây…
Xin cho sức mạnh, xin phù trợ,
Một chút tình quê, ngọn cỏ gầy!
Anh phải làm gì, phải ở đâu?
Mà nay đất Mỹ, giữa trời mầu!
Rõ ràng, mưa cũng như trời nắng!
Sương xuống mù trong cuộc bể dâu!
Thái cực quyền như võ Thiếu Lâm
Tập đi, cho đỡ, mối thiền nằm?
Cho lòng ở lại, nguôi ngoai bớt;
Lá gan từ, ưu uất hận căm!
Anh phải làm gì, phải ở đâu?
Quê hương biền biệt, cõi sương mù
Cô đơn, đứng ngã ba đường cái?!
Như hãi hùng, thức tỉnh gió thâu?
Car Wash này, ta đứng đã lâu!
Ngoài kia, gió thảm với mưa sầu...
Tóc vàng, cô Mỹ như hờ hững,
Bay khoảng đời lính chiến ở đâu?
Khói thuốc buồn, chia điếu với anh;
Từ ta buông súng mộng không thành;
Từ PhanRang vỡ, khi tăng đến;
Từ biển trào, em mộng tóc xanh!?
Tiến Ðào, Baton Rouge, LA, 2006
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Hoài niệm tương tư về chốn cũ.
Của thời thơ ấu sống an vui.
Bên cha bên mẹ cùng huynh đệ.
Thuở ấy trần gian ngập tiếng cười.
Tiếc rằng thời gian không ngừng lại,
Tiếc sao hoàn cảnh đã qua rồi.
Tiếc thương cha mẹ đà yên nghỉ!
Tiếc mãi đệ huynh khóc biệt ly!
Tiếc căn nhà cũ giờ hoang phế!
Tiếc mảnh đời ta đã xế chiều!
Tiếc thân lưu lạc trần gian khổ!
Tiếc nhớ song thân lệ đổ nhiều!
Ngọc Nhân
(Tặng Ngọc Nhẫn Texas)
Anh sắp đi rồi dạ vấn vương
Mười ngày xa cách vạn nhớ thương
Mười ngày học tập cho cấp úy
Lá úa hoa rơi khắp nẻo đường!
Em đã khóc nhiều ướt áo anh
Chưa đi em đã khóc xa anh
Non sông đã mất em đau đớn
Nước đã mất rồi sợ mất anh!
Ðã hơn ba tháng anh ra đi
Trí tâm trông ngóng lệ tràn mi
Mỗi ngày nấu nướng luôn đổi món
Mong đợi anh về đãi thích nghi!
Trăng đã lên cao anh ở đâu
Thao thức đợi anh giữa canh thâu
Trời buồn ánh trăng buồn rũ rượi
Gió thoảng vi vu tựa nguyện cầu!
Em tìm kiếm anh khắp nhiều nơi
Dò thăm tin tức vẫn mù khơi
Lo lắng nhớ thương em ngã bệnh
Bệnh hận thù Cộng Sản muôn đời!
Dù anh nơi nào có nhớ em
Phu thê son trẻ tuyệt êm đềm
Tình yêu tâm sự còn cao ngất
Anh ở đâu chết lịm hồn em!
Con sắp chào đời anh ở đâu
Mắt em tràn ngập giọt mưa Ngâu
Khóc thương sông núi nhiều tang tóc
Khóc chuyện tình ta anh ở đâu?!
Tuệ Nhẫn
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Đạt Ma Dịch Cân Kinh
(Nguyên bản Việt ngữ của Bác sĩ Lê Quốc Khánh
đăng trong nhật báo Người Việt ở Hoa Kỳ)
Bài này được đăng trên nhật báo Người Việt lần đầu vào ngày 17 tháng 11 năm năm 2000. Tiếp theo trên số báo ra ngày 24 tháng 2 mới đây cũng đăng thêm bài Kinh nghiệm Tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh. Nay do sự yêu cầu của nhiều độc giả, chúng tôi in lại bài đầu tiên về Dịch Cân Kinh để độc giả tiện tra cứu và tìm hiểu thêm.
Lời thưa:
Sau khi đọc lần đầu tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh, tôi chỉ mỉm cười, không mấy tin tưởng vì thấy phương pháp chữa trị những bịnh nan y một cách dễ dàng và quá đơn giản.
Tôi cũng xin tự giới thiệu để quý vị thấy rằng tôi đã được đào tạo và phục vụ Tây y qua nhiều thời kỳ. Đến nay tôi đã có bốn mươi chín năm y nghiệp, đã từng làm việc trong các bịnh viện Quân và Dân Y lớn nhất nhì trong nước Việt Nam Cộng Hòa, đã từng làm việc với người Pháp. Mỹ và Phi Luật Tân; đã từng là cộng sự viên của Bác sĩ Đinh văn Tùng, nghiên cứu chữa trị bịnh ung thư qua phẫu thuật (1936-1965). Tôi muốn nói rằng tôi có lý do để tin tưởng Tây y là một ngành khoa học có nhiều thành tích đáng tin cậy trong việc bảo vệ sức khỏe của con người. Cũng vì vậy mà tôi gần như có thái độ thờ ơ khi tiếp nhận Đạt Ma Dịch Cân Kinh.
Thế rồi một hôm, có người bạn cùng tuổi với tôi (sanh năm 1932) đi xe đạp ghé thăm. Tôi được nghe anh kể là anh đã khám bịnh ở Bịnh viện Chợ Rẫy, qua các xét nghiệm y khoa tối tân và các bác sĩ đã định bịnh cho anh:
* Ung thư gan
* Lao thận.
Anh thấy hoàn toàn thất vọng. Vì nếu vấp phải một trong hai chứng bịnh ấy cũng đủ chết rồi, huống chi mắc cả hai chứng bịnh nan y cùng một lúc. Cuối cùng anh có được tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh. “Cái phao mà anh đã níu được khi đang chới với giữa biển khơi” . Anh cố gắng tập, kiên trì thực hiện theo đúng tài liệu, và kết quả là anh đã thắng bịnh tật. Hiện nay anh sống khỏe mạnh bình thường, làm việc hớt tóc, có khi anh phải đứng hàng giờ để làm công việc, thế mà anh vẫn bình thường như bao người khác.
Từ đó đến nay, đã bốn năm, anh vẫn tập đều đặn. Nhìn tư thế và sắc diện, không ai nghĩ là anh đã mắc phải bịnh nan y. Thỉnh thoảng anh đi xe đạp đến thăm tôi. Cũng từ đó, tôi chú tâm nghiên cứu Dịch Cân Kinh. Đầu năm 1986, tôi đã truyền đạt tài liệu này cho một người bạn trẻ bị bịnh lao phổi, không được điều trị đúng cách vì hoàn cảnh bản thân cũng như xã hội vào thập niên 80. Cuối cùng anh đã gầy guộc chỉ còn có 32kg trong cơ thể suy nhược, đã mấy lần cứ tưởng là không qua khỏi. Và anh đã vớt vát chút hy vọng còn lại, anh đã tập Yoga. Kết quả cơ thể có phần nào phục hồi nhưng vẫn yếu đuối. Suốt mùa Đông, anh vẫn không ra khỏi nhà, nhìn sắc diện, vẫn lộ những nét bịnh hoạn.
Sau khi nhận được tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh , anh đã cố gắng kiên trì luyện tập, thời gian đầu bạn tôi cũng gặp những phản ứng như ghi trong tài liệu. Dần dần anh qua được bước đầu vất vả, và gần cuối năm 1986, sau bốn tháng luyện tập, anh đã ho tống ra một khối huyết cứng to bằng trứng chim cút, và sau đó anh từ từ hồi phục sức khỏe, da dẻ hồng hào, vẻ mặt vui tươi, và mãi đến nay anh vẫn giữ được sắc thái của người bình thường không bịnh hoạn.
Một trường hợp khác, bạn tôi, sinh năm 1931, bị bịnh Parkinson đã bốn năm nay, đã chữa trị Đông, Tây y, thuốc gia truyền và nhân điện...Lẽ dĩ nhiên là bịnh không khỏi. Vì bịnh Parkinson cho đến nay, loài người vẫn bó tay.
Sau khi nghiên cứu và luyện tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh, bạn tôi cũng gặp phản ứng như ghi trong tài liệu. Tuy vậy, anh vẫn kiên trì tập đều đặn. Tuy hiện nay bịnh Parkinson không lành hẳn, song bịnh được ngăn chận giới hạn ở mức chỉ rung có hai bàn tay. Còn các khớp, nhất là khớp tay và chân, vẫn cử động bình thường, không gặp một khó khăn trở ngại nào mà lẽ ra, đúng theo các triệu chứng điển hình, thì bịnh càng lâu, các khớp bị cứng và hạn chế cử động cho đến một lúc nào đó sẽ bị cứng khớp, không cử động được nữa. Bịnh kéo dài bốn năm nay nhưng anh vẫn sinh hoạt bình thường, có nghĩa là bịnh bị ngăn chận ở một mức độ có thể chấp nhận được.
Một trường hợp nữa là một anh bạn sinh năm 1930 bị béo phì, cao huyết áp, rối loạn tiêu hóa kinh niên. Từ hơn ba mươi năm nay, anh đã dùng vô số thuốc Đông, Tây y và châm cứu nhưng vẫn quanh quẩn hết chứng này đến tật khác, không ngày nào vắng thuốc. Anh đã tiếp nhận Dịch Cân Kinh, và sau thời gian tập luyện cũng có những phản ứng như đã ghi trong tài liệu, và sau đó, anh phục hồi sức khỏe, nhất là rối loạn tiêu hóa không còn nữa, ít khi phải dùng thuốc trị cao huyết áp. Anh ca ngợi Dịch Cân Kinh là môn thuốc trị bá bịnh.
Qua bốn trường hợp mà tôi đã theo dõi hai năm nay, chưa phải là nhiều, tôi đã phải công nhận Đạt Ma Dịch Cân Kinh là một phương pháp chữa được nhiều bịnh hiểm nghèo mà hiện nay Tây y nhiều khi phải bó tay.
Đọc qua tài liệu Dịch Cân Kinh, chúng ta thấy vấn đề kỹ thuật luyện tập không có gì khó khăn, rất dễ tập. Điều cần nhấn mạnh ở đây là ý chí, quyết tâm. kiên trì và thường xuyên. Nếu vượt qua được những điều này, tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ gặt hái được những kết quả mỹ mãn.
Năm 1943, khi giảng lớp Quân y Khóa 1, Phân khu Bình Trị Thiên và Trung Lào, thầy tôi, Bác sĩ Bùi Thiện Sự đã nói: “Nghề nghiệp của chúng ta có nhiệm vụ cao cả là phụng sự và làm vơi đi những đau khổ của nhân loại”. Để ghi nhớ lời dạy ấy của Thầy, tôi nguyện truyền đạt cho bất cứ ai, những gì mà tôi nghĩ sẽ giúp ích được cho mọi người.
Bây giờ tập tài liệu Đạt Ma Dịch Cân Kinh đối với tôi là một phương thuốc quý giá giúp cho đời. Tôi đã hối hận về nỗi thờ ơ của mình buổi ban đầu, khi mới tiếp nhận tài liệu này.
Miền Đông ngày 7 tháng 3 năm 1997
Bác sĩ Lê Quốc Khánh
Sự Tích Đạt Ma Dịch Cân Kinh
Năm 917 (sau Tây lịch), Đạt Ma Tổ Sư Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp và truyền giáo, sau ở lại Trung Sơn, Hà Nam, xây dựng chùa Thiếu Lâm, đã có nhiều đệ tử nhập môn học Phật để mai sau đi truyền giáo. Ông nhận thấy nay đem một tín ngưỡng đi truyền tụng có khi trái với tín ngưỡng của dân bản xứ, dễ xảy ra xung đột. Do vậy các đệ tử của ông vừa lo học lý thuyết Phật Pháp vừa phải luyện võ để tự vệ (Môn phái Thiếu Lâm xuất hiện và tồn tại đến ngày nay).
Nhiều người xin nhập môn nhưng thể lực kém, không thể luyện võ được, Tổ Sư bèn truyền đạt một phương pháp luyện tập được gọi là Đạt Ma Dịch Cân Kinh để chuyển biến thể lực yếu kém thành mạnh khỏe. Cách tập đơn giản nhưng hiệu quả to lớn vì tiêu trừ được các bịnh tật hiểm nghèo.
Ngày nay người ta nghiên cứu là phương pháp này chữa được rất nhiều bịnh, ngay cả bịnh ung thư cũng khỏi và bây giờ người ta áp dụng lý thuyết khí huyết của Đông y để chứng minh. Sức khỏe của con người liên quan chặt chẽ với khí huyết, về điều này thì ta thấy rõ ràng.
Trong Đông y, cái gọi là huyết thì không thể hạn chế và tách ra từng mặt như máu loãng hay đặc, hồng cầu nhiều hay ít, sắc tố như thế nào...mà nghiên cứu, mà dùng cách nhìn nhận toàn diện của quá trình sinh lý và quá trình tuần hoàn của huyết mà xem xét. Theo Đông y, một khi khí huyết không thông là tắt kinh lạc, do vậy các phế vật trong cơ thể cần thải mà không thải ra được. Vì máu lưu thông chậm, nên các chất keo, dịch, gân và các chất khô... không đủ nhiệt năng nên công năng của máu giảm sút không thể thải được những chất cần thiết trong cơ thể ra ngoài.
Luyện Dịch Cân Kinh, tay vẫy đúng phép, miệng, dạ dày mở, máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ, làm các vật chèn ép mất thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ thì mới khỏi bịnh.
Vậy theo Dịch Cân Kinh, cơ hoành lên xuống dễ dàng, ruột, dạ dày, thận tiếp được khí nên gây được tác dụng hưng phấn. Khi chức năng của máu tăng, thì giúp được việc tống cựu nghinh tân tốt, khí huyết thăng bằng là khỏi bịnh. Một số người sau đây đã luyện tập Dịch Cân Kinh có hiệu quả:
* Cụ Quách Chu, 78 tuổi, phát hiện u ở não và ở phổi. Luyện tập ngày ba buổi. Mỗi buổi 1800 lần. Tập đều sau ba tháng thì tan khối u và khỏi bịnh.
* Ông Trương Công Phát, 43 tuổi, phát giác ung thư máu, luyện tập Dịch Cân Kinh ngày 3 buổi, mỗi buổi 4800 lần (có dùng dưỡng tâm can), sau ba tháng khỏi bịnh. Đã ba năm nay vẫn khỏe mạnh.
* Cụ Từ Mạc Đính, 60 tuổi, ung thư phổi, và bán thân bất toại. Luyện tập sau 3 tháng thì hết bán thân bất toại, kiểm tra khối u cũng tan mất.
Nguyên nhân bịnh ung thư trên thế giới đang bàn cãi, ngay thuốc dưỡng tâm can cũng không phải là thuốc đặc hiệu chữa trị mà là giúp tim hoạt động tốt để thải chất độc.
Vì quá trình sinh lý cơ thể của con người là một quá trình phát triển, nó mang một nội dung đấu tranh rất phức tạp giữa cái sống và sự chết. giữa lành mạnh và bịnh tật, giữa già háp và trẻ dai. Nhưng kết quả cuộc đấu tranh là các nhân tố nội tại quyết định chớ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.
Vậy cơ thể con người là một chỉnh thể hoạt động. Trong vận động các lục phủ ngũ tạng đều dựa vào nhau tức là tương sinh, ức chế lẫn nhau tức là tương khắc. Nhưng khí huyết có tác dụng đến khắp tất cả các lục phủ ngũ tạng, cho nên việc phát sinh bịnh ung thư cũng do khí huyết lưu thông không chu đáo mà ra. Đông y đã xác định là cuộc đấu tranh của cơ thể với bịnh ung thư là một cuộc đấu tranh nội bộ ở trong cơ thể con người. Từ đó mà xây dựng quan điểm cho rằng bịnh ung thư là bịnh chữa được.
Đương nhiên bịnh tật là do sự trì trệ khí huyết mà nó làm cho hao tổn thêm khí huyết. Vậy công việc luyện tập cho khí huyết thay đổi là tự chữa được bịnh. Từ đó mà tạo được lòng tin vững chắc của người bịnh đối với việc tự chữa được bịnh ung thư, để tập trung tinh thần và ý chí đầy đủ để luyện tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh, vì phương pháp này thay đổi và tăng cường khí huyết. Nó cũng chữa được bịnh trĩ nội và trĩ ngoại. Ông Hà Thúc Nguyên bị trĩ nội và chứng đầy bụng, chỉ tập một tháng là khỏi. Luyện tập Dịch Cân Kinh thấy ăn tốt ngủ ngon là việc phổ biến tốt, đã làm tăng sức khỏe các bịnh nhân nói chung và chữa được nhiều chứng bịnh như : suy nhược thần kinh, cao huyết áp, bịnh tim các loại, bán thân bất toại, bịnh thận, hen suyễn, lao phổi, trúng gió méo mồm và lệch mắt.
Đông y cho rằng vấn đề cơ bản của bịnh tật là do khí huyết (âm, dương) mất thăng bằng mà sanh ra. Luyện Dịch Cân Kinh là giải quyết vấn đề này. Nên đối với đa số các loại bịnh, nhất là bịnh mãn tính đều có thể chữa được cả.
Phương Pháp Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Đầu tiên là nói về tư tưởng:
Phải có hào khí, nghĩa là có quyết tâm luyện tập cho đến nơi đến chốn, vững vàng, tin tưởng, không vì lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.
Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bịnh mà mọi người gọi là hiểm nghèo, phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng bịnh do việc luyện tập Dịch Cân Kinh.
Tư Thế Luyện Tập:
1. Lên không xuống có: Trên phải không, dưới nên có. Đầu treo lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng thẳng, thắt lưng mềm dẻo, hai cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay mềm, hai bàn tay ngửa ra phía sau xòe ra như cái quạt. Trong khi vẫy, hậu môn phải thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bám chặt như bám trên đất trơn. Đây là những quy định cụ thể của các yêu cầu cơ bản khi tập luyện Dịch Cân Kinh.
2. Dựa theo yêu cầu này, khi tập vẫy tay thì cơ hoành trở lên phải giữ cho được trống không, buông lỏng, thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc luyện tập. Xương cổ buông lỏng để có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhên, không mím môi, ngực trên buông lỏng để phổi tự nhiên. Hai cánh tay để tự nhiên giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám sát mặt đất, gót chân để phẳng lên mặt đất. Bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương sống thẳng như cây gỗ. Khi vẫy tay nhớ nhẫm câu: “Lên có xuống không”. Nghĩa là lấy sức vẫy tay về phía sau (lên), khi tay trả lại phía trước là do quán tính, không dùng sức đưa tay ra phía trước (xuống).
3. Trên ba dưới bảy : Là phần trên để lỏng độ ba phần khí lực, phần dưới lấy gân sức độ bảy phần khí lực. Vấn đề này quán triệt đầy đủ thì hiệu quả sẽ tốt.
4. Mắt nhìn thẳng : không nghĩ ngợi gì cả, miệng nhẫm đếm số lần vẫy.
Các bước tập cụ thể như sau :
a) Đứng hai bàn chân bằng khoảng cách hai vai.
b) Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, các ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay ra phía sau.
c) Bụng dưới thót lại, lưng thẳng. Bụng trên co lại, cổ để lỏng, đầu và miệng bình thường.
d) Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót sát đất, bắp chân và đùi chân căng thẳng.
e) Hai mắt chọn một điểm ở đàng xa làm mục tiêu để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, luôn chú ý vào các ngón chân đang bám đất. Đùi và bắp chân cứng. Thót hậu môn thật chặt và nhẩm đếm.
f) Dùng sức vẫy hai tay về phía sau, khi trả hai bàn tay về phía trước, chú ý để nó buông theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức. Tuy nhiên chân vẫn lấy gân cứng lên, hậu môn vẫn thót và co lại không lơi lả.
g) Vẫy tay từ 200, 300, 400, 500, 600, 700 lần, dần dần tăng lên đến 1800 lần vẫy (tương đương với 30 phút).
h) Phải có quyết tâm đều đặn tập trung vào sự luyện tập, không nên nóng, tập nhanh, tập nhiều vì dục tốc bất đạt. Nhưng cũng không nên tùy tiện, bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì như vậy sẽ làm mất lòng tin trong sự luyện tập, khó có hiệu quả.
Bắt đầu tập luyện, không nên làm tổn thương các ngón chân (Sau mỗi buổi tập, vuốt ve các ngón chân mỗi ngón chín lần). Nôn nóng muốn khỏi bịnh này mà dùng nhiều sức sẽ không đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến dần mới đúng cách và kết quả tốt. Nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán thì khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên nặng dưới nhẹ” là sai hỏng.
Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thì thường hay có trung tiện (đánh địt), hắt hơi và hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng..... chỉ là hiện tượng bình thường, đừng lo ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với vũ trụ là “Thiên khinh Địa trọng” (Trên nhẹ dưới nặng), đấy là quy luật sinh hợp với vũ trụ: Thiên khinh Địa trọng.
Sở dĩ bịnh gan là do khí huyết của tạng gan không tốt gây nên khi bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết. Do đó ảnh hưởng đến ống mật và cả tỳ vị. Luyện Dịch Cân Kinh có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là kết quả tốt.
Về bịnh mắt, luyện Dịch cân kinh là có thể khỏi chứng đau mắt đỏ với các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí chữa được cả chứng đục thủy tinh thể. Trong nội kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được. Khi khí huyết không dẫn đến được các bộ phận của mắt thì thường sinh ra các bệnh tật của mắt.
Đôi mắt là bộ phận của thị giác và cũng là bộ phận quan trọng của cơ thể.
Những Phản Ứng Khi Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Khi luyện tập, cơ thể có những phản ứng nhưng tất cả đều là hiện tượng thải bịnh, không nên lo nghĩ. Sau đây là 34 phản ứng thông thường và còn nhiều phản ứng khác không kể ra hết được.
1. Đau buốt, 2. Tê dại, 3. Lạnh, 4. Nóng, 5. Đầy Hơi, 6. Sưng
7. Ngứa, 8. Ứa nước giải, 9. Ra mồ hôi, 10. Cảm giác như kiến bò
11. Giật gân, giật thịt, 12. Đầu khớp xương có tiếng kêu lụp cụp
13. Cảm giác máu chảy dồn dập, 14. Lông tóc dựng đứng
15. Âm nang to lên, 16. Lưng đau, 17. Máy mắt mi giật
18. Đầu nặng, 19. Hơi thở nhiều, 20. Nấc, 21. Trung tiện
22. Gót chân nhức như mưng mủ, 23. Cáu trắng dưới lưỡi
24. Đau mỏi toàn thân, 25. Da cứng, da chân chai rụng đi,
26. Sắc mặt biến đi,27. Huyết áp biến đổi, 28. Đại tiện ra máu,
29. Tiểu tiện nhiều, 30. Nôn mửa, ho, 31. Bịnh từ trong da thịt bài tiết ra,
32. Trên đỉnh đầu mọc mụt, 33. Ngứa từng chỗ hay toàn thân,
34. Chảy máu cam.
Các phản ứng trên đây là do trọc khí bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ các thứ ứ đọng gọi là bịnh tật. Khi có sự phản ứng là có sự xung đột giữa chánh khí và tà khí, nếu ta vẫn tập luyện sẽ sản sinh ra các chất bồi bổ có lợi cho chánh khí. Ta tập đúng cách và làm tăng sức đề kháng, nó đẩy cặn bã trong cơ, gan, thần kinh và các tế bào khác mà mạch máu lưu thông bình thường không thải nổi.
Nhờ luyện tập Dịch Cân Kinh mà khí huyết lưu thông mới đưa nổi cặn bã ra ngoài nên mới sinh ra phản ứng. Vậy không nên lo sợ, cứ tiếp tục tập như thường. Có một phản ứng hiển nhiên là đã khỏi một căn bịnh. Cứ tập luyện đều đặn sẽ đạt hiệu quả tốt.
Luyện tập dịch cân kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau
Nội trung:
Tức là nâng cao can khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết. Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu.
Tứ trưởng tố:
Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc luyện tập. Tứ trung tố song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
Ngũ tam phát:
Nghĩa là 5 trung tâm của nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn lúc bình thường. Đó là :
Bách Hội: Một huyệt trên đỉnh đầu,
Gio cung: huyệt ở hai bàn tay,
Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân.
Khi luyện tập thì 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt . Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả, nó làm tăng cường thân thể, tiêu trừ các bịnh nan y mà ta không ngờ.
Lục phủ minh:
Đó là ruột non. ruột già, mắt, dạ dày, bong bóng tam tiêu sẽ thông suốt, nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi nên không trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.
Một số điều cần lưu ý khi luyện tập
1. Số lần vẫy tay: không dưới 800 lần, từ 800 lần trở lên dần dần đến 1800 lần (khoảng 30 phút) mới tới ngưỡng cửa của điều trị. Người bịnh nặng có thể ngồi mà vẫy tay, tuy nhiên phải nhớ thót hậu môn và bấm 10 đầu ngón chân.
2. Số buổi tập: Sáng thành tâm tập mạnh, Trưa trước khi ăn tập vừa. Tối trước khi ngủ tập nhẹ.
3. Có thể tập nhiều tùy theo bịnh trạng: Có những bịnh nhân nâng số lần vẫy tay lên đến 5 hay 6 ngàn lần trong mỗi buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ tốt, tiểu và đại tiện thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi luyện tập là thích hợp.
4. Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm. Bình thường thì vẫy 1800 lần là hết 30 phút. Vẫy lúc sau hơi nhanh hơn lúc đầu một chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng. Bịnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn. Bịnh nặng thì nên vẫy hẹp vòng và chậm, bớt dùng sức. Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh, mau mệt, mà chậm quá thì không đạt tới mục đích. Vì luyện tập là cần có mạch máu lưu thông.
5. Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ: Vẫy tay là môn thể dục chữa bịnh chớ không phải là một môn thể thao khác biệt. Đây là môn thể dục mềm dẻo, đặc điểm của nó là dụng ý không dùng sức, nhưng nếu vẫy tay nhẹ quá cũng không tốt, bởi vì bắp vai không lắc mạnh thì lưng và ngực không chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm đi. Vẫy tay không chỉ có chuyển động cánh tay mà chính yếu là chuyển động hai bắp vai. Bịnh phong thấp thì nên dùng sức ở mức nặng một chút. Bịnh huyết áp thì nên dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay chậm.
Nói tóm lại phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân tích các triệu chứng sau khi nghe sự nhận xét của mọi người, tự mình cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể: nhanh nhẹn, hồng hào, tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự mình suy nghĩ rồi quyết định cách tập trên nguyên tắc là tập thế nào cho cảm thấy thoải mái, dễ chịu là đúng, là tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích (ích lợi cho cơ thể), còn động tác mạnh là loại bỏ các chất cặn bã có hại cho cơ thể (bệnh tật). Lý luận này đang được nghiên cứu.
Khi vẫy tay về phía sau dùng sức bảy phần. Khi vẫy tay về phía trước thuộc về quán tính, còn chừng 5 phần.
Đếm số lần vẫy tay, đếm không phải để nhớ mà có tác dụng làm cho đầu óc bình tỉnh, có tác dụng tốt cho não được căng thẳng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân âm được bồi dưỡng.
Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn): Không có khác biệt, ở nơi đâu cũng tập được. Dĩ nhiên nơi nào không khí trong lành và yên tĩnh vẫn tốt hơn.
Trước và sau khi tập: Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho tim được thoải mái, đầu óc được yên tĩnh để chuyển hóa về tâm lý và sinh lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng, thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình tĩnh vê 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân đủ 9 lần. Người không đủ bình tĩnh, nên cần chú ý đến điểm này,
Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép: Sau khi tập thấy ngứa và bụng nhẹ nhàng, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước giải ứa ra nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ tốt, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép. Sau khi luyện tập, đa số thấy có phản ứng, nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau. Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có thích hợp với người tập hay không.
Khi tập cần chú ý các điểm sau đây:
Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư).
Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực),
Khi tay trả về phía trước, không dùng sức (nhẹ),
Tay vẫy về phía sau, dùng sức (nặng, mạnh),
Mỗi lần tập tăng dần số lần vẫy tay.
Tập ngày 3 buổi, kiên quyết tự chữa bịnh cho mình.
1. Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập luyện: Hết lòng tin tưởng, kiên quyết tới cùng. Tập đủ số lần nhứt định, tập thường xuyên thì hiệu quả rất tốt. Nếu khi tập khi nghỉ, không đủ số lần tập nhất định, trong lòng còn nghi hoặc, bị động theo dư luận, thấy phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định không hiệu quả.
2. Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không ? Có thể sinh bịnh do tư thế không đúng, làm sai nguyên tắc. Nhưng trong trường hợp này cũng hãn hữu, không tới 1%.
3. Khi tập nên tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn mùa đông. Tóm lại cần lưu tâm những điểm sau:
Khi tập luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất.
Thót hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ thế “thượng hư hạ thật”.
Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1800 trở lên mới có hiệu quả.
Khi gặp phản ứng đừng ngại, đó là diễn biến tốt, cứ tập số lần như cũ. Khi hết phản ứng sẽ tăng số lần vẫy tay lên.
Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tưởng, tập luyện tới cùng, chắc chắn sẽ đẩy lùi các bịnh tật ta đang mắc phải.
Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bịnh mà còn là một phương pháp phòng bịnh rất hữu hiệu.
Source: Hội Thân Hữu Việt Nam
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Thân tặng các bạn cùng lớp của ngày xưa .
Lòng chợt lặng …khi nhớ về quê cũ
Bao buồn vui , những tháng ngày ấp ủ,
Soải cánh bằng, ta ước được như chim
Bay về nơi ký ức vẫn kiếm tìm
Để bù lại những niềm thương nỗi nhớ
Dù xa xôi bởi không gian cách trở
Vẫn hoài mong ngày thấy lại quê xưa
Cùng bạn bè sum họp dưới bóng dừa
Bên biển xanh, bên họ hàng thân quyến
Có bao giờ ta thấy lòng lưu luyến
Bởi bạn bè chợt gặp lại nơi đây
Lòng rộn ràng, mặt nhìn mặt bắt tay
Để tìm lại nét thân quen ngày cũ
Cùng hàn huyên chuyện tràn như nước lũ
Để thấy lòng chợt rộn rã xôn xao
Lòng dậy lên hình ảnh của ngày nào
Mà bỗng gần năm mươi năm đằng đẵng
Có bao giờ ta thấy lòng trống vắng
Bởi tìm đâu những khuôn mặt thân quen
Nhớ như in, những tập vở dưới đèn
Quyển “ Lưu Bút “ thuở xưa…Ngày hè đến
Từng khuôn mặt của bạn bè thân mến
Mà thời gian có chờ đợi ai đâu
Tóc pha sương đã phủ kín mái đầu
Rồi ai cũng đi về miền “Đất hứa “
Chi lạ hỉ ! Nói chuyện chi ghê rứa ?
Cứ thản nhiên mà sống ! Có chi mô ?
Đời vô thường….như chuyện của sông hồ…
Phải vậy không ? Hở “ Mấy đứa tụi mình “ thân mến !
Linh Chi.
Tiếng đồn con gái PhanRang
Đầu đội cái rế, vai mang cái gùi
( ca dao dân gian )
Tôi về tắm mát giếng trong
Anh về khơi lại dòng sông quê nhà,
Từng rẫy bắp, hàng luống cà
Vẫn nghe thắm đượm hương hoa bưởi nồng,
Tôi đây phận gái má hồng
Chẳng làm chi được, ngưỡng mong ngày về,
Dù cho cách trở sơn khê
Dù cho khổ nạn ê chề đớn đau ,
Dù cho dốc đứng đèo cao
Dù cho lạc bước cũng mau ngược dòng,
Để về tưới mát ruộng đồng
Để mà thấy được tấm lòng cố hương,
Dẫu rằng tóc đã pha sương
Vẫn lòng dũng bước con đường đã đi,
Sắt son còn một chút nì
Quê hương còn đó, thì chi mà ngờ !
Hỏi rằng , lòng có dại khờ
Nạn tai còn đó, giấc mơ hảo huyền,
Đành rằng phận gái thuyền quyên
Đầu đội cái rế, vai chuyên mang gùi,
Dẫu rằng tất tả ngược xuôi
Cũng cam phận chịu, mà nuôi mộng lành,
Mong sao con được nên danh
Bỏ công dưỡng dục sanh thành năm nao,
Ầu…ơ…Hát khúc ca dao
Câu ca còn đó, năm nào vẫn in,
Ví dầu…. cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo… gặp ghình khó đi,
Khó đi… , mẹ cũng dắt con đi
Con đi trường học.., mẹ đi trường đời.
Linh Chi.
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Huy Vân
Ngày dài 30 tháng 4 năm 1975, mang lại tù đày cho cả miền Nam, và cảnh đời đã đổi trắng thay đen đưa đến sự đói khổ, sự tụt hậu cả một Dân Tộc, trầm luân bất tận cho đến bây giờ mà chưa có lối thoát ?! Sau khi cưởng chiếm miền Nam, CS Việt Nam thiết lập hơn 270 trại tù trong vùng rừng sâu nước độc, trải dài từ Bắc đến Nam; giam giữ hơn 1.000.000 Quân, Cán, Chính và dân lành vô tội!. Cựu quân nhân và công tư chức trình diện tại vùng Sàigòn- Gia Định tập trung tại Trại Long Giao - Suối Máu thuộc tỉnh Biên Hòa; khởi đầu theo lệnh học tập 10 ngày; hết 10 ngày, qua 1 tháng; rồi lại hết một năm và sau cùng chuyển tù đày ải ra Bắc.
Tù chuyển ra Bắc
Cuối tháng 6/1976, đa số tù nhân được chuyển bằng tàu thủy, rồi chuyển bằng tàu hỏa, đường bộ về Hoàng Liên Sơn. Những năm đày ải ra miền Bắc là thời gian tàn lụn nhất; đói khát, bệnh tật chết vì không thuốc men, không người thân thăm viếng v.v.. Liên trại 6 tại vùng núi Hoàng Liên Sơn, lồng chảo Điên Biên Phủ núi đồi hiểm hốc, vắng bóng người qua lại, là vùng tử địa cướp xác tù dễ dàng khi lâm bệnh! Người tù chịu bao nỗi cực hình, lại thêm biệt âm vô tín! Ngày ngày lao động nặng nhọc. Sáng sớm rời khỏi cổng trại, cốá gắng vượt khỏi 3 ngọn đồi có hình nấc thang nằm về hướng Tây bắc trại, tù đặt tên là Đồi Ba Dội. Vừa leo lên đến đỉnh đồi thứ ba, khoảng 11AM với ánh nắng hanh vàng đang chói chang dưới chân đồi. Người tù đứng trên ngọn đồi được bao phủ cả một áng mây trắng đục, lành lạnh, chỉ đứng cách xa 1 thước vẫn không thấy nhau; mây đang bay lơ lửng, bay lang thang vay kín cả khu núi đồi trùng điệp. Cảnh đẹp thơ mộng này, người tù như đứng giữa cảnh Thiên thai?!. Vừa mơ mộng như sắp vào Thiên đàng; lại vừa lo sợ sắp rơi ngã vào vực thẩm tại vùng SơnLa đày ải?!
Sơn la đỉnh cao Đồi Ba Dội,
Mây trắng bay buốt lạnh thân tù,
Miền hoang dã, ngục tù tăm tối!
Sao cảnh hư vô quá bẽ bàng?!.
Chưa kịp nghỉ ngơi 5 – 10 phút, lại tiếp tục lục lạo, xông xáo tìm kiếm cây nứa, cây vầu đúng kích cỡ ấn định, vội vàng chặc 10 –12 cây, buộc thành bó từ đỉnh núi cao lại lần mò vác hết bó nứa về trại. Mồ hôi ướt đẫm cả áo quần, bụng dạ thì đói nhưng đến giờ ăn chỉ có sắn khoai thay cơm, vắt vừa tròn nắm tay. Nơi đây, núi rừng khí hậu nghiệt ngã, rừng sâu nước độc, anh em gọi là Tổng Đàn của bọn Hắc đạo trong truyện Kim Dung; là nơi bọn người dùng tà thuyết hãm hại giết dần những người chống lại chúng!. Sống trong cảnh tuyệt vọng vô vàn này thấy mà thảm thương!
MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT
Trời rét quá càng thêm thấy lạnh
Cảnh đọa đầy cơm áo mong manh
Núi rừng sâu, một mầu xanh cỏ
Đá gập ghềnh, chôn giấu thân anh!
Ngày hai bữa, khi sắn lúc khoai
Cơm thiếu ăn đào xới củ mài
Sâu một trượng thêm vài ba quả
Gửi vào lòng chẳng thấy ngày mai!
Áo anh loang lổ, quần tơi tả
Sương gió bạc mầu lẫn mồ hôi
Đường anh đi, phải chăng mai một
Hận cho đời đen bạc thế thôi!.
Đồi cao vách đá quá cheo leo
Thân anh trôi giạt như cánh bèo
Ngập đầy dông tố mưa dài khổ
Chống đở cơn đau vững tay chèo!
Đêm nay gió lạnh đặc mù sương
Ngục tù đen tối khắp nẻo đường!
Người nối người nhìn nhau đói khát,
Màn trời chiếu đất thấy mà thương!.
Mùa này lại tiếp nối mùa khác; những đêm có trăng, tường vách khu trại còn trống trải vừa mới che tạm bợ; đêm khuya càng hiu quạnh, sương lạnh đắp bờ vai; trăng tỏa khắp vùng trời bao la, khắp núi đồi hoang vu và nơi đây những láng, trại đang còn ngổn ngang. Tù nhân ngày lao động vất vả, tối đến mệt mỏi, ngất lịm trong cơn đói đang cồn cào giằn vặt, đang mơ màng trong lúc ngủ; ánh trăng len lén xuyên qua khe tường, vách lá; trăng đến rồi đi trong giấc mộng bâng quơ !. Nỗi buồn nào, mà không xót xa ?! khi nhìn trăng vời vợi..
Nhìn Trăng
Nhìn trăng nghiêng bóng qua song
Vừa thương vừa nhớ sầu đông lại về
Em ơi! Nhớ giữ lời thề
Sau cơn bão táp anh về với em
Mùa đông rét mướt thâu đêm
Anh nằm canh cánh bên phên gió lùa
Gió đưa, gió thổi rì rào
Vợ Nam chồng Bắc ngày nào gặp nhau?!
Trăng buồn vượt đĩnh non cao
Len vào song cửa vấn an bạn đời
Đêm nay trăng đến bên lòng
Lồng chim khóa chặt từng vòng kẽm gai
Ước mơ sớm gặp ngày mai
Cho trăng hết vướng bờ gai đầu tường .
Nơi đây không có ngày về, ngày về còn xa lơ, xa lắc; chỉ thấy mỗi ngày cứ thêm rơi rụng từng người, từng người vội vả ra đi!! Kiếp đọa đày lao động khổ sai; đói khát, bệnh tật cứ triền miên!. Ngày lại ngày tiếp tục băng rừng vượt suối, đốn gổ xẻ rừng và mong nhặt thêm ít khoai, đào thêm ít củ nừng, củ chuối; bắt cóc, nhái v.v.. chui lòn bao tử ! Nỗi buồn tủi, lúc nhớ vợ thương con, khi tưởng đến cha mẹ già, càng ngậm ngùi..
Nhớ Mẹ
Tôi có mẹ già tóc bạc phơ
Mẹ tôi hiền, đẹp tựa bông hồng
Danh lẫy lừng, vang khắp thiên hạ
Sáng ngời xanh, Hòn Ngọc Viễn Đông .
Tuổi hai mươi thế kỷ vàng son
Tôi lớn lên mẹ con vuông tròn
Mẹ thương con, con nhớ thương mẹ
Tình mẫu tử dạt dào siết khôn .
Thưa mẹ,
Trong dĩ vãng con làm tất cả
Dâng lẽ sống con giữ quê hương
Máu từng chảy loang hòa vào nước
Thấm vào đời, con mến muôn phương .
Nhớ những chiều Đàlạt sương rơi
Đây Vũng tàu gió lộng bể khơi
Sàigòn xinh tươi, như Hoa Đăng Hội
Sức sống vươn lên nhộn nhịp đời .
Thôi là hết mùa hoa chớm nở
Tủi phận mình chưa rửa nợ trần
Bao tháng ngày, mặt trời đi ngủ
Lạnh ngoài đời, lạnh khắp châu thân!.
Bao tủi nhục, căm hờn xót xa
Bao cay đắng, nhớ thương mẹ già
Con mong đợi, mặt trời thức dậy
Cho mẹ con gặp nhau đậm đà.
**
Cuối năm 1978, để tránh cuộc chiến tranh giữa hai nước từng là anh em thân thiện nhất, cùng tôn thờ một Chủ nghĩa cực đoan; gọi là XHCN, ViệtNam & Trung cộng!. Tù các vùng dọc theo biên giới gấp rút chuyển về miền bình nguyên, chúng tôi được chuyển về Trại Nam Hà B. Trại này có hỗn danh gọi là Trại Đầm Đùn nói lên sự cai quản cũng gian ác, đày đọa kinh tởm. Kể từ nay, Bộ Đội trao lại quyền quản chếù cho Công an. Sách lược của chúng là giam giữ tù, ngày càng làm tiêu hao sức lực; bỏ đói khát và bắt buộc lao động khổ sai, đau ốm chết chóc càng nhiều càng tốt! Mặt khác CS lại đặc ân cho một số người hèn nhát, tiếp tay làm tay sai cho chúng, những tên đốn mạt này, anh em thường lánh xa, cách biệt và họ chỉ biết trơ trẻn thủ phận một mình, thấy mà thương hại!
Về đến Nam Hà, trại xây cất rộng lớn, có tường đá cao bao bọc kiên cố, mỗi gian nhà có thể chứa 200 người; nhốt tù vào các dãy phòng, chật cứng người sát người, dơ dáy và ngột ngạt. Phòng ở kín đáo, nên mỗi chiều sau giờ điểm danh, khóa cửa, anh em lại có dịp gần gủi nhau, chia sẻ an ủi nhau; hoặc tụm năm, tụm bảy kể chuyện, đọc thơ, ca hát v.v..Trung tá Nông - A - Pan, cựu Sĩ quan tùy viên Lào; về đêm thường kể chuyện: - Chưởng, Đường rừng, Ma quái, Chuyện dài xứ Ba Tư Nghìn Lẽ Một Đêm v.v.. lôi cuốn, hấp dẫn làm anh em say mê quên hết cả mệt nhọc trong ngày; anh em rất quí mến, thường gọi ông là: - Tiên Sinh Pan! Nay
cũng đã trở nên người thiên cổ. Xin chia sẻ sự đau buồn và trân quí đến gia đình người quá cố!
Đặc biệt những đêm dài mưa rơi gió rét, buồn man mác; nơi đây, cái lạnh và đói cuộn chung nhau làm một, gói thuốc lào lúc này là thần dược diệu kỳ, khói thuốc thả lượn bay bay và những dòng thơ ai oán như cứ luôn tuôn trào..
THÔI HẾT NHẠT NHÒA.
Ngoài trời gió thoảng mưa rơi
Lòng anh xao xuyến buông lơi phím đàn
Tiếng tơ nức nở vô vàn
Gửi mây lướt gió ngỡ ngàng trao ai
Em hởi em có nhớ anh không
Có bao lần em đã chờ mong
Ngày xưa trời nước mênh mong rộng
Bây giờ chỉ biết có đợi trông
Từng thu chết, đông về giá lạnh
Đã mấy mùa, tím ngắt mặt trời đông
Bao tháng ngày sống trong cảnh chim lồng
Đường hoa môäng vẫn chờ bay trước gió
Em có biết những đêm dài nơi đó
Lửa lập lòe thuốc lịm tắt trên môi
Dòng khói xanh, như khơi nhớ một thời
Bao dĩ vãng dâng lên trào khóe mắt
Nơi đây sương gió phủ đầy
Vượt hằn gian khổ có ngày hoan ca
Vườn Xuân sắp lại nở hoa
Tình ta thôi hết nhạt nhòa từ nay .
Dần dần, cuộc sống tại trại Nam Hà B, cuối tuần vào ngày Chúa nhựt buổi sáng, tùy tình hình anh em ở bên ngoài lén nhập vào khu bên trong (nơi đây có 2 khu). Ban tổ chức quan sát tình hình lính gác và nghiên cứu cấp thời chọn phòng tương đối kín đáo, phổ biến cho nhau biết trước 5 – 10 phút – tập trung sinh hoạt và cẩn mật đề phòng chuyện bất trắc có thể xãy ra. Buổi sinh hoạt đầu tiên do Trung tá T (81 BCD) và Trung tá H (Phòng Quân Huấn B.TTM) phối hợp tổ chức một chương trình Văn nghệ bỏ túi đặc biệt giới thiệu: - Đây là: - Tao Đàn Tiếng Thơ Nhạc Tự Do Trong Ngục Tù CS, với những bản nhạc tù khúc nóng bỏng và những bài thơ say men trong niềm tin bất khuất, dù có phải xé gan bẻ cật vẫn phù cương thường. Tất cả anh em tham dự, đồng loạt vung cao cánh tay và hân hoan đón nhận những tràn pháo tay nồng nhiệt..
SAY
Rượu không uống, sao người mãi say
Trời đất xoay quay bao đắng cay
Ôi biệt ly, buồn dài thế kỷ
Để nhớ về, tràn ngập chân mây
Người chiến sĩ đi trong mưa gió
Thân hải hồ khoác áo chinh y
Mỗi lần đi mấy khi trở lại!
Từng dọc ngang, khắp nẻo biên thùy
Ba mươi năm chiến tranh máu lửa
Biết bao lần bom đạn tên bay
Nhưng không chết, trên hào trận tuyến
Và vẫn sống trong lòng hôm nay
Làm chiến sĩ sống đời oanh liệt
Nợ tang bồng phải trả cho xong
Thắng không làm vinh, bại không nhục
Hận thù này, khắc cốt ghi lòng
Rượu đâu uống sao người mãi say
Ta say trong bốn bức tường dầy
Khi buồn muốn la, vui lại khốc
Lúc tỉnh khi say hỡi rượu cay!.
Buổi thơ nhạc trên làm nền tảng cho bước đi trong âm thầm qua bao sự khắc phục chịu đựng đè nén trong tâm khảm người tù; nay đánh thức tinh thần anh em, tạo cho mỗi người, biết đoàn kết thương yêu nhau hơn!.
Khí thế càng hăng say, tình thần hưng phấn được sáng tạo một cách lạ lùng, ngay trong cái lồng sắt lúc nào cũng canh phòng gay gắt, phụ họa là thành phần ăng ten luôn bám sát gót chân tù. Nếu không cùng một lòng, chắc rằng lưới bạo tàn sẽ dập tắt! Những cùm, kẹp tha hồ chăm sóc kỷ đối anh em hết lòng ..
Thơ nhạc nở rộ trong ngục tù, là những dịp rửa sạch tâm hồn người tù vì qúa tủi nhục, không một ai dám lên tiếng hoặc chống đối nhà tù; tiếng đàn, tiếng nhạc, tiếng thơ ngân vang trong những tụ điểm, những nơi kín đáo, những lúc nhàn rỗi làm xoáy động những tâm hồn đang chết lặng vì ngục tù CS dã man nhất thế kỷ!.
NGUYỆN CẦU
Trời hỡi trời! tôi quá đau khổ
Mang thân tù chuốc lấy đọa đày
Đường tôi đi vinh, nhục đôi ngã
Hận biệt thù, lại thêm đắng cay
Nhục nào hơn bằng nhục mất nước
Vực nào sâu bằng vực tù đày
Nắng vàng không ấm người mong đợi
Ngẩng mặt nhìn trời chỉ thấy mây
Nơi đây máu mắt đong thành đá
Suối chảy rừng sâu gợi thêm sầu
Nắng cháy da đầu, lòng vẫn lạnh
Mùa đông giá lạnh, sốt đêm thâu
Trời hỡi trời ông giờ ở đâu
Bao nhiêu năm tháng tôi nguyện cầu
Cho ViệtNam không còn đau khổ
Cho nươc nhà sớm hết Cọng nô !
Suốt ngày lao động cực nhọc, chiều tối cơm nước không đủ cung cấp nhiệt lượng; đêm về, bao nhiêu hoài vọng thương nhớ không sao nhắm mắt, và cứ mơ tưởng về Sàigòn!.
Đêm đêm mơ thấy Sàigon,
Đèn xanh đèn đỏ có còn đâu em ?!.
Giấc mộng ray rứt làm tâm hồn lâng lâng bồn chồn, nôn nao và trông đợi. Giấc mộng chỉ mơ được thấy Sàigòn.. Gió ù thổi thêm lạnh, tâm hồn như u uất, vang vọng trong lòng não nuột cả khung trời ly biệt! Ngoài trời mưa vẫn cứ rơi..
CHO TÔI SỐNG LẠI MỘT NGÀY
Nghe mưa rơi, lòng ta nức nở suốt canh dài
Nghe gió thổi, sầu thêm cô quạnh
Đã mấy mùa ?! Mấy mùa đông giá lạnh
Khung trời vắng lặng bóng trăng sao
Ôi biệt ly buồn lắm thương đau
Ai cách ngăn ?! tình yêu chan chứa
Ai đã xé nát con tim đôi đứa
Nhưng vẫn nhớ mãi trong lòng
Nhớ em như nhớ dòng sông
Thương em như thương dòng suối mát
Cung đàn tiếng thơ ta hát
Cho tượng đá mắt cũng lệ nhòa
Nơi đây không có mùa xuân nắng đẹp hiền hòa
Nhưng vẫn nhớ, ngày nắng ấm lam chiều khói tỏa nhẹ
Em đi từng bước lòng vẫn thấy lẹ
Chờ trăng lên nao nức không quên đời
Hỡi ôi! Ngày ấy đã xa rồi
Và từ nay, ngày không ngày, trời đất như cuồn quay sụp đổ
Ôi quê hương! Ôi tình yêu tan vỡ
Trong tối tăm, cho tôi sống lại một ngày.
Kể từ nay lúc lên núi xuống đồi, khi có dịp quay quần bên nhau, bạn Nguyễn văn Thái khóa 15 ĐàLạt với cây đàn Guitare vừa được gia đình gửi đến, anh ray rức lay động qua lời thơ mộc mạc hiền hòa và anh phổ thơ ngay bản nhạc Cho tôi sống lại một ngày.. Cả đội Rau Xanh như thêm sức sống mới và càng hy vọng hướng về tương lai và làm cho đội Mộc và Rèn nằm gối đầu bên cạnh, cùng vui hưởng những giây phút rung cảm, khi nghe bạn Thái cất tiếng hát nảo nề, ai oán trong những đêm mưa gió sụt sùi.Tiếng hát như gào thét giữa đêm trường; lúc trầm, bổng, dồn dập bềnh bồng như xua cái đen tối thân phận tù đày rồi sẽ qua mau.
***
Tù chuyển về Nam
Cuối tháng 12/1980 toàn Trại Nam Hà B có khoảng 2000 người chuyển về Nam, 5 năm đày đọa và hãm hại thê thảm tại các trại tù miền Bắc; CSï vắt hết mồ hôi, nước mắt, và xương máu tù nhân, nay chỉ còn bộ xương khô lê lết trên đường về là cả một trời tím ngắt!..
Xuôi Nam
Đường trở về thoáng hiện quê hương
Niềm thương man mác sao khác thường
Bao năm xa cách càng uất hận
Ai thấu lòng ta có biết chăng?!
Vẫn trăng đó vẫn khung trời xanh
Một nửa hồn đau tím cả lòng!
Ai tri ky û?! Ai người phản bội?!
Mang đất nước nầy đến thương vong!
Hà Nội ơi!
Bao năm chìm đắm trong bức màn sắt
Hà nội không tiến, lịch sử vẫn không ngừng
Há nội dừng lại, dân chẳng đặng đừng
Màn đen che khuất, cơn ác mộng hãi hùng!
Sàigòn ơi!
Ngày sóng đỏ, ngập đầy cánh đồng xanh
Đã gây bao thê lương tang tóc
Miền Nam kinh hoàng, trong máu lửa loài quỉ đỏ
Quỉ đỏ!! Quỉ đỏ!! Mi là quân thù,
Ta thề quyết không đội trời chung!
Mi nói Tự Do
Dân chẳng thấy no
Hô hào Dân chủ
Đặc quyền quan to
Dân làm như phu
Chẳng khác thân tù
Lãnh tụ gian ác
Nhốt cả thầy tu!
Để rồi, bao hưng vong của đất nước,
Đâu còn tiếng chuông Giáo Đường,
thức tỉnh mi,
đang gay nhiều tội ác!.
Hỡi hồn thiêng núi sông nước Việt
Hỡi anh linh phảng phất đâu đây
Hỡi những người lâm cảnh tù đày
Hãy cùng nhau, dựng lại quê hương mình!.
Trại Z 30D vừa đón nhận 2000 tù từ Trại Nam Hà B như nói trên; sau 2 ngày phân tán còn lại 120 tù chuyển về Trai C, vừa đến nơi các bạn tù Vĩnh Phú về trước1 tuần, thông báo sẽ có kiểm tra. Một tập Sớ Táo Quân được các bạn bè cất giấu dùm thoát được cảnh lục soát; ngay tối ngày 23 tháng 12 âm lịch năm 1980, chúng tôi lại có cơ hội thực hiện một buổi sinh hoạt tại buồng ở khá nhộn nhịp và tuần tự kể hết những tội ác của Trại như: - Đàn áp tù, đánh đập, trù dập, bỏ đói khát, đau ốm bệnh tật v.v.. trình tâu hết lên Ngọc Hoàng Thượng Đế ?!
- Chỉ còn 7 ngày nửa là đón giao thừa Tết Tân Dậu năm 1981, các trại tù miền Bắc lần lượt chuyển về Nam không hẹn mà gặp anh em tù trong Nam; sau ngày quê hương bị thống trị bởi CS, tù trong Nam hầu hết là giới trẻ, sinh viên học sinh, công tư chức và các bô lão có tiền của bọn CS gọi là Tư sản mại bản v.v.. Người người đều cảm nhận thiếu mấtTự Do, thiếu mất điều gì mà từ trước họ được sống nay không còn nữa!. Tù biệt xứ nay trở về gặp lại đủ các thành phần trong xã hội cũ, mang cùng tâm trạng thương đau, vô bờ bến!.
-“Cảnh chim lồng cá chậu biết thuở nào ra”?! Trại C đang nhốt khoảng 1800 tù nhân, lợi dụng thời gian và không gian lễ hội Tết sắp đến, anh em quyết liệt kết nối nhau trong âm thầm quyết liệt. Theo chương trình ngày mùng 1 Tết, khu A, B, C đề cử anh em thăm viếng lẫn nhau và chúc Tết vào buổi sáng. Ánh sáng ban mai lung linh nhảy múa tràn vào từng dãy buồng tù đang trú ngụ như an ủi và cùng chia sẻ sự vui mừng qua những lời chúc tụng nhau:
- Mau sớm có ngày trở về.
- Đả đảo chính sách hà khắc đối với tù chính trị.
- Hẹn ngày gặp nhau tại.. (Một số tin tức khả tín, Bà Khúc Minh Thư đang vận động Mỹ thu nhận tù.)
Qua mùng 2 Tết, đúng giờ G khoảng 3 PM, khu A dàn cảnh bày tiệc trà cùng nhau vui Tết để có dịp đánh 4 tên trật tự và ăng ten, kết quả biến động lan truyền nhanh khắp khu B, C toàn trại. Ban chỉ huy Trại báo động, lập tức điều động công an trấn áp tù khu A để giải cứu mấy tên tay sai. Trong khi công an vào đàn áp tù, không may anh Tân vì quá hăng say đánh lũ người nối giáo giặc chưa thoát khỏi vòng ẩu đả, công an ào tới bắt gặp anh Tân đang dùng cây đánh những tên gian ác phản bội. Anh Tân bị công an vay bắt và đánh túi bụi vào mặt mày thân xác máu me đầy người, chúng bắt anh Tân bỏ vào bao bố kéo ra khỏi trại đánh hội đồng liên tu bất tận! Hiện trường lúc này khá sôi động, khu A, B, C đều ra khỏi nhà đồng hô to:
- Không được đánh tù chính trị.
- Yêu cầu trả anh Tân về Trại.
- Tất cả 3 khu, tù nhân đồng la, thét, vang dậy một góc trời. Tin tức truyền tải từ khu A, qua B, rồi đến C; nối nhau như cơn bão trong lòng nhịp nhàng và không bao giờ muốn dứt!. Không khí sôi động, tiếng la, tiếng thét toàn trại hơn 1800 con người cùng một lúc trong rừng sâu tăm tối, trong ngục tù CS, chưa bao giờ xảy ra …….. nay các bạn tù đồng đứng dậy nói lên một ý chí sắt đá, một tinh thần bất khuất , kiên cường và không bao giờ chịu khuất phục!
Mỗi khắc, giờ trôi qua, sự biến động có thể xảy ra những biến cố hệ trọng hơn; Công an tăng cường càng lúc càng đông, súng ống sẵn sàng chĩa vào lưng tù, chúng áp đảo tù khu A, rồi lần lượt khu B vào nhà khóa chặt cửa. Nay chỉ còn khu C bên ngoài khoảng 400 người, nhất quyết lấy hàng rào chắn ngang giữa khung B và C, làm điểm tựa vừa kín đáo che khuất, vừa che chở nhau. Mặt trời buông dần xuống, anh em vẫn hiên ngang tiếp tục cuộc đấu tranh và hô to các khẩu hiệu :
- Không được đánh tù chính trị.
- Không đánh đập anh Tân.
- Phải thả anh Tân trở về trại.
- Đừng nghe những gì CS nói, hãy nhìn những gì CS làm.
- Nơi nào có đàn áp, nơi đó có nỗi dậy.(Karl – Marx)
- Đả đảo CS– Đồng loạt vỗ tay và liên tục hát bài ca ViệtNam – ViệtNam.
Cuộc đấu tranh hôm nay, quả thật “Cá nằm trên thớt ”, dù có vùng vẫy rồi cũng bị sức mẻ gãy gọng; sau 3 ngày thức trắng đêm hao mòn biết bao tâm huyết để rồi Ban Quản Lý trại, biệt tách hơn 52 chiến sĩ nhiệt tình, không khiếp sợ nhận lấy đau thương, chuyển hết về Chí Hòa rồi đày ải vào đội Trừng giới thuộc tỉnh Phú Khánh. Sau này theo tin tức được biết Thiếu tá Lê Danh Chấp gục ngã trong những ngày trừng phạt tại Trại Xuân Phước. Chúng tôi quá xúc động vì mất một người bạn kiên cường anh dũng bất chấp sự trả thù tàn bạo của CS. Thiếu tá Chấp chết đi đã để lại cho các bạn tù trại Z 30D một niềm thương tiếc vô cùng xót xa, anh vừa can trường vừa hăng say luôn kích động mọi người cùng đứng dậy hô to các khẩu hiệu suốt đêm và đến cả ngày hôm sau mùng ba Tết, anh là người hùng trong đêm nỗi dậy cho đến bây giờ anh em vẫn thương nhớ và biết ơn anh.
Rừng lá Nỗi Dậy
Rừng Lá,
Tiếng thét đêm nay nghe dễ sợ
Tiếng rú đêm nay nghe rợn người
Rừng Lá âm u, đây Rừng Lá!
Bừng dậy đêm nay trời sáng sao!.
Rừng Lá,
Đêm nay ta gào! Đêm nay ta thét
LàoKay – YênBái – SơnLa,
HàNamNinh – VĩnhPhú – PhongQuang!.
Nghĩa địa vùi xác tù vội vả!
Z 30D nghiệt ngã trăm bề gớm ghê!
Rừng Lá,
Tiếng rú đêm nay nghe dễ sợï
Tiếng thét đêm nay quá kinh hoàng
Rừng Lá âm u, đây Rừng Lá!
Bừng dậy đêm nay trời xót xa!.
Rừng Lá,
Đêm nay ta hát cho nhau nghe
Bài ca uất nghẹn
Bài ca hận thù máu chảy
Và nhửng bài ca trong ngục tối!
Đêm ngục tù không chăn không chiếu
Chân xích xiềng buốt giá đêm thâu
Xích xiềng nào xé nát tim ta?!
Lửa hận thù bốc cao bùng cháy!.
Quân cộng thù phá nát quê hương
Bao năm dài bóp chết dân đen
Vì Tự Do ta tìm cuộc sống
Vì Tự Do ta phá bỏ chim lồng!.
Ôi Việt Nam trại tù khắp nẻo
Rừng Việt Bắc lắm anh hùng bỏ thây
Ôi từng cây! Sốt rét rừng xô ngã
Da bọc xương khiếp cảnh lưu đày!
Đêm nay ta hát cho nhau nghe
Bài ca uất nghẹn, khiếp cảnh lưu đày.!
Sau ngày nỗi dậy, Ban Chỉ Huy Trại càng khép chặt cổng tù, càng theo dõi gắt gao từng hành động tù nhân. Sau 2 tháng, một buổi sáng toàn trại tập trung nhận lệnh đi lao động. Đột nhiên Ban Chỉ Huy Trại gọi tôi ra trước sân tập họp và đọc Lệnh phạt với lời lẽ : Chây lười lao động. Ngay lập tức hai tên trật tự áp giải tôi về phòng kiên giam, theo sau có 2 tên võ trang cầm súng. Vừa vào phòng giam, có sẵn tấm váng bề rộng khoảng 6 tấc, bề dài vừa đủ chiều cao tầm người; tấm váng kê cao bởi 2 con ngựa cách mặt đất khoảng 1 thước, người tù bắt nằm dài, thẳng 2 chân xỏ vào 2 còng sắt tròn vừa sát cùm chân; treo tòn teng bởi cây sắt nằm ngang có 2 trụ cột gắn chặt chôn sâu dưới đất. Thế là suốt ngày đêm 2 còng sắt dính sát 2 mắt cá cổ chân, khi ăn uống, tiểu tiện, đại tiện đều nằm ngồi tại chỗ.
Tiếng gào giữa đêm khuya
Làm sao sống lại ngày mai
Làm sao quên hết những đêm dài
Âm u một cõi lòng nức nở
Trắng tay gối đầu sầu khôn nguôi!
Đêm nay một mình, một phản, đôi cùm sắt
Lưng mỏi loai hoay sột soạt hoài
Tiếng còng khua động ác đêm lạnh!
Oan trái nợ đời dễ ai quên ?!
Phòng giam khóa chặt đầy bóng tối
Hiu hắt bao thu lạnh tứ bề
Rằng đây có phải là địa ngục ?!
Ta gào! Ta thét ! giữa đêm khuya!.
Tiếng gào còn vang mãi trong sa mạc
Tiếng thét căm hờn vọng lại từ xa
Bao nhiêu năm lưu đày khốn khổ
Bấy nhiêu năm bít lối đường về .
Giờ đây lại nằm chân co chân duỗi
Thôi thúc thân tù hành hạ đắng cay
Dù phải hy sinh nơi cửa ngục nầy!
Vẫn bền chí quyết một lòng bất khuất .
Vẫn tin tưởng có ngày xán lạn
Đập gông cùm phá xiềng xích dã man
Diệt hung nô thời đại bạo tàn
Làm sạch cỏ nhổ từng tên đầu sỏ .
Ta sẽ về, ta sẽ trở về
Vượt Mây Tào núi dài rừng sâu
Biển Hàm Tân cát bay rát mặt
Thoát nơi này ra hẳn tối tăm .
Làm sao biết được ngày mai
Làm sao biết được đường dài
Sông kia có khúc người có lúc
Dòng đời thay đổi dễ ai hay .
Làm sao giết được ngày mai ?!
Làm sao quên hết những đêm dài!
Đã mấy mùa rung trống xông trận!
Chờ ngày phục hận sẽ ra tay.
Sau một tháng cùm siết chặt 2 cổ chân, tôi được thả ra, đi đứng không vững, tất cả trời đất như quay cuồn rồi ngã gục trên đường về trại. Từ Bắc trở lại Nam còn bộ xương khô, nay chỉ tội: Chây lười lao động mà cùm 2 chân không cử động nổi. Thật đáng thương cho số phận làm tù!.. Thuở xưa, giữa hai nước có chiến tranh, sau khi chấm dứt kẻ thắng đối xử người tù vẫn coi quí trọng thân thể họ, xem kẻ thù như tình đồng loại; cho ăn uống đầy đủ, đau ốm có thuốc men điều trị, ngày thả ra còn may cho cả áo quần v.v.. Nay CSViệt Nam đã đánh mất hết bản tính con người thuần túy Việt Nam, cùng Chung một Giống nòi; họ không còn nghĩ đến Tình Huynh Đệ, Nghĩa Đồng Bào; rồi mặc tình đày đọa hằng triệu người miền Nam tại các trại tù, lâu dài 5,10,15,17 năm trời lao đao, lận đận, tả tơi đến khốn cùng!.. Giết dần 20 triệu mầm sống của nửa Dân Tộc tại miền Nam! Vì vậy cho đến ngày nay sau 31 - 32 năm cưởng chiếm miền Nam; CSViệt Nam chỉ có ha hê say men trên chiến thắng, chỉ biết vơ vét đầy túi tham; tham ô, tham nhũng lấy của cải tài sản của dân cùng âm mưu ăn cắp đục khoét của công làm của hương hỏa cho đời sống riêng tư tăm tối của chúng. Sau thời gian dài, chẳng xây dựng được gì cho đất nước, chỉ là con số không! Dân tộc ViệtNam ngày nay hơn 80 triệu người đang quằn quại sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo đói dốt nát.. Sau bao nhiêu năm dài trọn quyền cai trị, thế mà nước Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới?! Tại sao?! Vì CS Vietnam cướp hết quyền Tự do, Dân chủ, v. v.. Để rồi độc quyền cai trị! Từ đó không có tiếng nói khác, không có đảng phái đối lập góp chính kiến xây dựng xã hội, vậy biết bao giờ Nước Việt Nam mới tiến bước kịp các nước bạn trên thế giới ?!
Huy Vân
Sau khi doc xong bai viet nay chau duoc biet tac gia tung o tu cai tao o trai Phong Quang.
Cha chau cung tung o do. Chau muon biet nhung nguoi ban tu da tung o trai Phong Quang de hoi tham ve viec tim hai cot cua Cha.
Cam on - Xin lien lac qua taibooz@yahoo.com
Vậy nếu em cần biết tin tức của thân phụ thì cứ post tên tuổi, cấp bậc và khoảng thời gian thân phụ em qua đời, hy vọng chúng tôi có thể giúp em tìm thấy một vài đầu mối hữu ích.
Cầu mong linh hồn của ông linh thiêng, hộ trì cho em tìm thấy được nắm xương tàn gởi gắm nơi hoang lạnh.
Chúc em và gia đình gặp nhiều may mắn,
Em có thể liên lạc với chúng tôi qua email:
aihuuninhthuan@yahoo.com
Ở tù chuyển qua nhiểu trại từ Nam ra Bắc, nhưng chú không ở Phong Quang.
Theo hiểu biết của Chú, cháu tìm Bố chết trong tù, nơi đây diễn đàn này cũng để những người thất lạc hoặc chết trong tù có cơ hội loan tin và tìm kiếm - Vậy cháu cứ show đủ tên họ, cấp bật sau cùng của bố cháu - tiếp tục ghi lên diễn đàn - may ra sẽ có người hiểu biết và họ sẽ tin cho cháu.
Chúc cháu và gia đình sớm được tin bố cháu.
Chúc nhiều may mắn.
Riêng cháu nếu có thể cần liên hệ hoặc cần gì chú - Chú sẽ sẵn sàng giúp cháu.
Chú Huy Vân.
Anh diễn tả thật sâu sắc và thơ làm thật hay.
"Xít-ta-lin ơi hỡi Xít-ta-lin!
Thương cha thương một, thương ông thương mười!"
Thiệt là đáng xấu hổ cho bọn mang voi về giày mả tổ mà vẫn cứ bô bô miệng tự xưng mình là "cách mạng"!
Cũng vậy, khi sống trên đất Mỹ này mà nhìn thấy những kẻ nịnh bợ Mỹ, thiết nghĩ bản chất của họ cũng chẳng khác gì bản chất của bọn cộng sản bợ đỡ Nga Tàu, cứ ôm hôn chùn chụt "đồng chí anh em bóc lột" mà không biết xấu hổ! Ngày hôm nay mà chúng ta phải lưu vong như thế này thì cho cùng cũng do Mỹ cấu kết với Cộng sản mà nên cớ sự.
Comment on «Lời trần tình» from Journal «Nhật ký Ái hữu (Journals)»
Nếu quý vị và các bạn muốn đóng góp, lưu lại nhật ký, xin vui lòng làm theo trình tự sau đây:
1- Copy từng đoạn bài mà quý vị đã đánh máy bằng tiếng Việt từ các word processors hoặc các text editors như Microsoft Word, Notepad, wordpad v.v….Xin lưu ý là số chữ một lần đưa vào diễn đàn có giới hạn nhất định cho nên nếu bài dài quá thì sẽ bị tự động loại bớt những phần sau, vì vậy quý vị phải đưa vào nhiều lần, mỗi lần một đoạn cỡ 4-5 trang mà thôi.
2- Click vào chữ Post a Comment hoặc chữ reply, một bảng chuyển tải trực tuyến sẽ hiện ra, xin quý vị và các bạn điền vào phần Name (dùng bút hiệu hoặc biệt danh là tốt nhất) và email của mình.
3- Sau đó quý vị và các bạn click mouse phải vào bảng đánh máy phía dưới (trong trường hợp này là bảng chuyển tải vì quý vị không cần phải đánh máy nữa) và Paste toàn bộ nội dung mà quý vị đã copy lúc nãy vào bảng này. Click vào chữ submit một lần mà thôi, lập tức nội dung này được chuyển tải và xuất hiện ngay trên diễn đàn.
Quý vị cũng có thể đánh máy trực tiếp vào bảng đánh máy ở trên (trong trường hợp này là bảng đánh máy và chuyển tải) rồi sau đó click vào submit để chuyển tải vào diễn đàn.
Nếu quý vị không cài đặt (install) nhu liệu font (mẫu chữ) tiếng Việt vào máy của mình, xin vui lòng vào địa chỉ sau đây để xử dụng bàn đánh máy mViet ZEN 90 trực tuyến (online): http://www.erct.com/8-WebMaster/mviet/index.html
Theo hướng dẫn mà đánh máy trực tiếp vào khung đánh máy của mViet ZEN 90. Xin lưu ý các dấu thông thường trên keyboard được đánh ngay sau mỗi chữ như sau:
Số (1) tức là dấu sắc, số (2) tức là dấu huyền, số (3) tức là dấu hỏi, số (4) tức là dấu ngã, số (7) tức là dấu móc của chữ ơ và ư, số (6) tức là dấu mũ của chữ ô và ê, số (8) tức là dấu liềm của chữ ă, và dấu (.) tức là dấu nặng. Riêng chữ đ thì đánh (d9) tức là chữ đ.
Sau khi đánh máy xong thì click vào mouse phải trong khi đặt mouse trên bất cứ chỗ nào trong khung bảng đánh máy, một bảng nhỏ hiện ra có chữ select all trong đó, click select all với mouse trái và bảng nhỏ này biến mất ngay, đừng di chuyển mouse, ngay lập tức click mouse phải một lần nữa, một bảng nhỏ khác xuất hiện có chữ copy trong đó, click copy với mouse trái để copy toàn bộ nội dung vừa đánh máy. Sau đó tiếp tục làm theo bước 2 và 3 ở trên để chuyển tải trực tiếp vào diễn đàn.
Nếu quý vị chưa quen thì cứ tự nhiên tập thử cho vui, đừng ngại, những nội dung không hoàn chỉnh hoặc có khuyết điểm ngoài ý muốn của quý vị sau đó sẽ được xóa bỏ khỏi diễn đàn của chúng ta. Mọi thắc mắc về kỹ thuật xin email cho chúng tôi tại aihuuninhthuan@aol.com hoặc aihuuninhthuan@yahoo.com